vanban.org

Bản án 33/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 03/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thúy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: bị cáo Phan Thị Thúy K 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thăng Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Phan Thị Thúy K cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Thăng Bìn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Thúy Kiều phạm tội “Trộm cắp tài sản”; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thúy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày: 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ to ̣a phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Trinh

Các Hô ̣i thẩm nhân dân:

ông Tô Đình Trị

ông Nguyễn Đăng Thám

- Thư ký phiên tòa: ông Hồ Quốc Việt, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thăng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Trúc Mai - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/ QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thị Thuý K; giới tính: nữ; sinh năm 2005 tại Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nơi ở hiện tại: thôn Q, xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phan Văn B, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980; chồng: Thái Minh L, sinh năm 2004; có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.

Bị hại: bà Lê Thị K Ng; sinh năm 2001; nơi ĐKHKTT: tổ 21, thôn Q, xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 25/11/2023, Phan Thị Thúy K lấy trộm 01 con heo đất của bà Lê Thị K Ng để tại shop phụ kiện LULI’S, địa chỉ tại số 38, đường N, khu phố 3, thị trấn Hà Lam bỏ vào cốp xe đem về nhà dùng 01 cái nhíp bằng kim loại màu trắng dài 9cm; 01 cây que bằng sắt sài 11cm; 01 tăm tre dài 6cm khui và gắp lấy từng tờ tiền với nhiều mệnh giá khác nhau trong con heo đất, tổng số tiền K khai nhận lấy được 3.200.000 đồng, đến ngày 26/11/2023 K đem con heo đất đến để lại chỗ cũ của shop phụ kiện LULI’S. Ngày 28/11/2023, bà N đem con heo đất ra để bỏ tiền tiết kiệm, nghi ngờ có người lấy trộm tiền nên bà N đem con heo đập để kiểm tra phát hiện chỉ còn 2 tờ mệnh giá 50.000 đồng (bà N khai số tiền bị mất trong con heo đất khoảng từ 3.000.000 đến 3.500.000 đồng), bà N mở camera của shop để kiểm tra phát hiện K là người lấy trộm con heo đất của bà N, ngoài ra bà N khai nhiều lần bị mất tiền mặt số tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng nhưng không xác định được tổng số tiền, qua xác minh K thừa nhận hành vi của mình lấy trộm con heo đất của bà N và nhiều lần lấy trộm tiền mặt của bà N mỗi lần lấy từ 100.000 đến 200.000 đồng, nhưng không nhớ rõ ngày tháng.

Tổng số tiền K khai trộm cắp của bà N vào ngày 25/11/2023 và các lần khác (không xác định được thời gian) là 10.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 cái nhíp bằng kim loại màu trắng dài 9cm; 01 cây que bằng sắt dài 11cm; 01 tăm tre dài 6cm; 01 đĩa CD ghi lại sự việc Phan Thị Thúy K lấy trộm heo đất của bà Lê Thị K Ng; các mảnh vở của con heo đất, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSTB-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình đã truy tố bị cáo Phan Thị Thuý K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình thực hành quyền công tố Nhà nước phát biểu luận tội: Giữ nguyên tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo Phan Thị Thúy K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị tuyên bị cáo Phan Thị Thuý K phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 06 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

* Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD, ghi lại sự việc Phan Thị Thúy K lấy trộm heo đất của chị Lê Thị K Ng; tịch thu tiêu huỷ 01 cái nhíp bằng kim loại màu trắng dài 9cm; 01 cây que bằng sắt dài 11cm; 01 tăm tre dài 6cm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Phan Thị Thuý K không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thăng Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, tuy nhiên trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập lấy lời khai của bị hại. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Phan Thị Thúy K khai nhận: vào khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 25/11/2023, bị cáo lấy trộm số tiền 3.200.000 đồng trong con heo đất của bị hại Lê Thị K Ng để tại shop phụ kiện LULI’S, địa chỉ tại số 38, đường N, khu phố 3, thị trấn Hà Lam. Ngoài ra, trong quá trình bán hàng cho bà N, bị cáo K còn nhiều lần lén lút lấy trộm tiền mặt của bà N mỗi lần lấy từ 100.000 đến 200.000 đồng, nhưng không nhớ rõ ngày tháng. Tổng số tiền bị cáo K trộm cắp của bà N vào ngày 25/11/2023 và các lần khác (không xác định được thời gian) là 10.000.000 đồng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo đối chiếu thấy phù hợp với nội dung trình báo của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được cơ quan điều tra thu thập, chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 3.200.000 đồng trong con heo đất của bà Lê Thị K Ng để tại shop phụ kiện LULI’S vào ngày 25/11/2023 của bị cáo Phan Thị Thúy K, như Cáo trạng truy tố số 23/CT-VKSTB-HS ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ; mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo hiểu, nhận thức được điều đó, nhưng do túng thiếu tiền chi tiêu nên đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, lén lút chiếm đoạt trái pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị hại đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ; nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng thêm Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là thỏa đáng.

Những vấn đề liên quan cần giải quyết trong vụ án:

* Về dân sự: đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; xét thấy: tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD, ghi lại sự việc Phan Thị Thúy K lấy trộm heo đất của bà Lê Thị K Ng; tịch thu tiêu huỷ 01 cái nhíp bằng kim loại màu trắng dài 9cm; 01 cây que bằng sắt dài 11cm; 01 tăm tre dài 6cm không còn giá trị sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khoá XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thúy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: bị cáo Phan Thị Thúy K 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thăng Bình nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phan Thị Thúy K cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Do hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo Phan Thị Thúy K.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tuyên: lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD, ghi lại sự việc Phan Thị Thúy K lấy trộm heo đất của bà Lê Thị K Ng; tịch thu tiêu huỷ 01 cái nhíp bằng kim loại màu trắng dài 9cm; 01 cây que bằng sắt dài 11cm; 01 tăm tre dài 6cm không còn giá trị sử dụng.

(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thăng Bình, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 3 năm 2024).

3. Về án phí: bị cáo Phan Thị Thúy K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ