vanban.org

Bản án 33/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Sằm Thế V, Hoàng Huy C, phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt: Bị cáo Sằm Thế V 04 (Bốn) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 09/02/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 33/2024/HS-ST. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST.
Ngày 26/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mạc Ngọc Day; nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.

2. Ông Hoàng Văn Thiết; nghề nghiệp: Giáo viên.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Diệu Linh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử theo hình thức số hoá, công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 483/2024/TB-TA ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Sằm Thế V; sinh ngày 02/3/2007; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Thôn Khau Ca, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Sằm Văn K, sinh năm 1983 và bà Lý Thị N, sinh năm 1984; anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang.

2. Họ và tên: Hoàng Huy C; sinh ngày 04/9/2007; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Thôn Nà Lại, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1987 (Đã chết) và bà Hứa Thị N, sinh năm 1989; anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Sằm Thế V: Ông Sằm Văn K, sinh năm 1983; trú tại: Thôn Khau Ca, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Huy C: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1967; trú tại: Thôn Nà Lại, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái.

- Bị hại: Ông Lý Phúc H, sinh năm 1988; trú tại: Thôn Chợ Bợ 2, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Hoàng Văn H, sinh ngày 14/02/2008; trú tại: Thôn Mỏ Cao, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng Văn H: Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1983; trú tại: Thôn Mỏ Cao, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái.

(Ông C, ông K có mặt tại phiên tòa; ông H, cháu H, bà D vắng mặt, có đơn xin

vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng cuối năm 2023, Hoàng Văn H, sinh ngày 14/02/2008, trú tại thôn Mỏ Cao, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái học được cách phá khóa cổ và mở máy xe mô tô nên H đã nảy sinh ý định lập nhóm và rủ một số người bạn quen biết tham gia trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 05/02/2024, do thiếu tiền chi tiêu, H nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản (xe mô tô). H dùng điện thoại gọi điện cho Sằm Thế V, sinh ngày 02/3/2007, trú tại thôn Khau Ca, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái rủ V đến chỗ mình đang chơi tại thôn Khâu Vi, xã A, huyện L. Khoảng 30 phút sau, V đi đến chỗ H, tại đây V gặp H và Hoàng Huy C, sinh ngày 04/9/2007, trú tại thôn Nà Lại, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái cùng một số người khác. Lúc này, H nói chuyện rủ V và C đi trộm cắp xe mô tô, V, C đồng ý. H nói với V “đi đường chưa có tiền đổ xăng và ăn uống” sau đó H đưa V đi cầm cố chiếc điện thoại của V để lấy tiền đổ xăng rồi quay lại đón C. Khoảng 17 giờ cùng ngày Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu trắng, đen, không gắn biển kiểm soát, chở Hoàng Huy C ngồi giữa, Sằm Thế V ngồi sau cùng, đi từ xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái đi hướng sang tỉnh Tuyên Quang để trộm cắp tài sản. Khi đi đến thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái cả ba vào ăn tại một quán ven đường. Tại đây, V hỏi H “thế bây giờ đi đâu?”. H trả lời “bây giờ sang Tuyên Quang rồi lên huyện H lấy xe dễ hơn”. Sau khi ăn xong H điều khiển xe mô tô chở V, C đi theo đường Quốc lộ 3B Tuyên Quang - Bắc Kạn, theo hướng huyện H - huyện C, tỉnh Tuyên Quang để tìm tài sản (xe mô tô) có thể trộm cắp. Trên đường đi Hiệu nói với V, C “xe có khóa thì cứ dắt ra xong bẻ khóa, còn xe không có khóa thì cứ vào nổ máy đi bình thường...xe có khóa thì C vào lấy, còn không có khóa thì V vào...ai vào lấy được thì xe để cho người đấy”. Do biết H trước đó đã từng đi trộm cắp nên V, C tin tưởng nhất trí làm theo sự phân công của H.

Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi cả ba đi đến thôn Chợ Bợ 2, xã B, huyện H thì nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô mang biển số 22F1-372.57 của anh Lý Phúc H, sinh năm 1988, trú tại thôn Chợ Bợ 2, xã B, huyện H đang dựng xe tại sân nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khoá điện. H nói với C, V “Có con xe cắm chìa kìa”, sau đó H điều khiển xe chở C, V đi qua nhà ở của gia đình anh H 04 lần. Sau khi quan sát trong nhà và xung quanh nhà anh H không có người, H bảo Chương “Có xe cắm chìa kìa, mày xuống lấy đi”, do C lần đầu trộm cắp nên C chưa dám trộm và nói “Xe ở trong nhà, tao không dám lấy đâu”, thấy C sợ, nên Hiệu bảo Sằm Thế V “V vào lấy đi, thằng C không giám vào đâu”, ngay sau đó V đáp “Để tao”. Nói xong Sằm Thế V xuống xe, bước nhanh đến vị trí chiếc xe đang dựng, nhanh chóng ngồi lên yên xe, đồng thời dùng tay phải vặn chìa, mở ổ khoá điện, đề nổ rồi phóng nhanh xe đi về phía ngã tư Km31 Quốc lộ 2 Tuyên Quang - Hà Giang tẩu thoát. Trong lúc Sằm Thế V trực tiếp trộm xe, Hoàng Văn H, Hoàng Huy C ngồi trên xe cách khoảng 10 mét để cảnh giới, phòng việc V bị phát hiện sẽ kịp thời giải cứu và tẩu thoát. Khi đi được khoảng 02 km, H và V điều khiển xe đi vào 01 đoạn đường nhỏ rồi dừng xe, V tháo biển số xe trên đường tiếp tục đi vứt biển số xe vào ven đường không nhớ cụ thể vị trí. Cả 03 tiếp tục điều khiển xe đi đến xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang tiếp tục trộm cắp được 01 xe mô tô rồi đi về nhà. Trên đường về V điều khiển xe chiếc 22F1-372.57 bị ngã, dẫn đến xe hỏng, nên H, V, C mang chiếc xe giấu ở ven đường.

Tại kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô mang biển số 22F1-372.57 của ông H tại thời điểm ngày 05/02/2024 là 18.015.900đ (Mười tám triệu không trăm mười lăm nghìn, chín trăm đồng).

Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSHY, ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Sằm Thế V và Hoàng Huy C, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Sằm Thế V từ 04 đến 06 tháng tù; bị cáo Hoàng Huy C từ 04 đến 06 tháng tù. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trước khi mở phiên toà các bị cáo có đơn từ chối người bào chữa, đơn có ý kiến nhất trí của người đại diện hợp pháp của các bị cáo. Tại phiên toà các bị cáo và người đại diện hợp pháp đều xác nhận việc từ chối người bào chữa là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc; các bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa tại phiên toà, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo sẽ có ý kiến bào chữa cho các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo nhận thức sâu sắc về trách nhiệm giáo dục của gia đình, xác nhận hành vi trộm cắp mà các bị cáo thực hiện là trái với quy định của pháp luật. Nhưng do các bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức chưa được sâu sắc, còn ham chơi, bồng bột, gia đình cũng có trách nhiệm trong việc chưa quản lý chặt chẽ các bị cáo cũng như chưa có cách giáo dục phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, tuổi đời của các bị cáo để cho các bị cáo được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và được hưởng mức án thấp nhất, gia đình tiếp thu và hứa sẽ điều chỉnh cách giáo dục các bị cáo để các bị cáo rèn luyện bản thân tốt hơn.

Bị hại, ông Lý Phúc H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt ông H trình bày giữ nguyên lời khai tại giai đoạn điều tra, xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường do các bị cáo bồi thường và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Ngoài ra, ông H còn có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, giữ nguyên ý kiến tại giai đoạn điều tra, không có yêu cầu hay đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 05/02/2024, tại thôn Chợ Bợ 2, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Sằm Thế V, sinh ngày 02/3/2007 (16 tuổi 11 tháng 3 ngày); Hoàng Huy C, sinh ngày 04/9/2007 (16 tuổi 5 tháng 1 ngày) và Hoàng Văn H, sinh ngày 14/02/2008 (15 tuổi 11 tháng 22 ngày) đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 22F1-372.57 của anh Lý Phúc H, sinh năm 1988, trú tại thôn Chợ Bợ 2, xã B, huyện H trị giá 18.015.900đ (Mười tám triệu không trăm mười lăm nghìn, chín trăm đồng). Hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác mà các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ.

Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây hoang mang cho quần chúng về tình hình an ninh trật tự. Đồng thời, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nhưng các bị cáo đã học hết lớp 9, trong nhà trường đã được giáo dục đạo đức, lối sống; các bị cáo đã có những nhận thức và hiểu biết nhất định. Do vậy, các bị cáo hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản của họ là hành vi trái pháp luật. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện hoàn toàn do lỗi cố ý, thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự liều lĩnh và ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo. Mặc dù, các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nhưng căn cứ vào tình tiết, tính chất, mức độ và ý thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải;các bị cáo đang sống phụ thuộc vào bố mẹ, không có tài sản riêng có giá trị nhưng sau khi phạm tội các bị cáo đã có ý thức tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; tội phạm mà các bị cáo phạm phải là tội ít nghiêm trọng, các bị cáo chưa bị xét xử lần nào về hành vi vi phạm pháp luật nên các bị cáo phạm tội lần này là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo khi phạm tội các bị cáo dưới 18 tuổi, là người chưa thành niên phạm tội, cần áp dụng các quy định về xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội khi xem xét trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ (03 tình tiết tại khoản 1 và 01 tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự), đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất và dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật và thực tiễn, các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, chưa hoàn chỉnh về nhận thức xã hội, tuổi đời còn trẻ còn nhiều thời sống ở phía trước. Nên xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt tù bằng thời gian mà các bị cáo đã bị tạm giam trong vụ án, tạo điều kiện cho các bị cáo có ý thức thay đổi tích cực, có cơ hội để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Các bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất giản đơn.

Các bị cáo dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn đen bạc không gắn biển số của anh Lý Phúc H. Ngày 15/4/2024, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H, là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản. Việc trả lại tài sản bị trộm cắp cho bị hại là phù hợp với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại, anh Lý Phúc H đã nhận lại tài sản bị các bị cáo trộm cắp nhưng do tài sản bị hư hỏng phải sửa chữa nên anh H yêu cầu các bị cáo bồi thường cho anh H số tiền 3.500.000 đồng; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, anh H xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác. Hội đồng xét xử không xem xét về phần trách nhiệm dân sự.

Đối với Hoàng Văn H đã có hành vi tham gia trộm cắp tài sản vào ngày 05/02/2024. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển tài liệu có liên quan đến Công an huyện H để xử phạt theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra còn xác định ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 05/02/2024 trên địa bàn huyện H, tỉnh Tuyên Quang, các bị can Sằm Thế V, Hoàng Huy C còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn tỉnh Hà Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thông báo và chuyển các tài liệu liên quan đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra, giải quyết nên không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Sằm Thế V, Hoàng Huy C, phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Sằm Thế V 04 (Bốn) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 09/02/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Huy C 04 (Bốn) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 09/02/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.

2. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo Sằm Thế V, Hoàng Huy C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Ngọc Day – Hoàng Văn Thiết

Lương Thanh Huyền

Cỡ chữ