vanban.org

Bản án 33/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 12/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H tội: “Cướp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi Hba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 29/7/2023. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H tội: “Cướp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2024/HS-ST
Ngày:12/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Kim Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Vũ Linh - Bí thư xã đoàn Tân Hội Đông

2/ Bà Châu Bích Phượng - Phó chủ tịch Hội LHPN huyện Châu Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Phục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2023/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Phi H (Tên gọi khác: Cu Đ), sinh ngày 09/11/2007 tại tỉnh Sóc Trăng; CCCD: 082207011877; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Thợ bạc; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị E; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982 (Cha ruột) ̣(có mặt).

Địa chỉ: ấp Tân Phong, xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Ngọc Grợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 04/8/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Tặt).

- Bị hại: Bùi Tiến Đ1, sinh ngày 05/6/2014 (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp: Dương Thị Ngọc P, sinh năm 1989 (Mẹ ruột) (có đơn xin vắng)

Cùng địa chỉ: ấp Thân Đức, xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Trương Thị Thảo P1 giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Đỗ Hữu T1, sinh ngày 24/9/2009 (có mặt)

Đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Ngọc T2ruột) (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Đỗ Hữu T1: Ông Phạm Minh Đ2trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tặt)

2/ Nguyễn Minh B, sinh ngày 30/3/2009 (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp: Nguyễn Minh T3, sinh năm 1989 (Cha ruột) (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

3/ Dương Thành T4, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Thân Đức, xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

4/ Nguyễn Phi L, sinh ngày 15/12/2013 (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982 (Cha ruột) (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Tân Phong, xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

- Người làm chứng:

1/ Phạm Thị M, sinh năm 1950 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

2/ Dương Hoàng T5, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 28/7/2023, Nguyễn Phi Hỗ Hữu T1hau đi tìm tài sản để trộm. H khiển xe mô tô Wave A, màu đen không gắn biển số chở T1thông trên đường huyện lộ 32B, đoạn thuộc ấp T, xã Tả hai nhìn thấy em Bùi Tiến Đ1g điều khiển xe đạp điện hiệu Asama màu đỏ - đen lưu thông phía trước cùng chiều. Lúc này, H chiếm đoạt xe đạp điện của Đ1 điều khiển xe vượt lên chặn đầu xe của Đ1. H xuống rồi dùng chân đạp vào xe làm cho Đ1xe ngã xuống đường, H tay đánh nhiều cái vào người Đ1 cho Đ1ng sợ bỏ chạy rồi chiếm đoạt xe. HT1 khiển xe Wave A chạy trước còn Hđiều khiển xe đạp điện chạy theo sau. Khi chạy được một đoạn thì cả hai đổi xe cho nhau, H khiển xe Wave A đẩy T1 trên xe đạp điện vừa cướp được chạy về nhà của T1. Tại đây, H rời hai vè xe, bộ điều khiển xe đạp điện ra. Sau đó H khiển xe Wave A chạy về nhà tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giangm ruột tên Nguyễn Phi Lnhà của T1, rồi HL xe đạp điện về nhà dùm. Sau khi bị cướp xe đạp điện, Đ1nhà kể lại sự việc cho chị Dương Thị Ngọc P ruột) biết nên chị P1 Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang báo sự việc.

Quá trình điều tra Nguyễn Phi Hkhai nhận, ngoài vụ “Cướp tài sản” nêu trên Hthực hiện một vụ “Trộm cắp tài sản” là 01 xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave A màu xanh, biển số 63S5-2363 cùng với Nguyễn Minh B. Cụ thể: Khoảng 11 giờ ngày 21/5/2023, Hnhau đi tìm tài sản để trộm, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Cả hai đi bộ đến khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Gianghìn thấy chòi giữ vườn của anh Dương Thành T4, bên ngoài chòi có dựng 01 xe mô tô Wave A màu xanh, biển số 63S5-2363 để anh T4vợ nghỉ trưa. Hg bên ngoài quan sát, khi thấy vợ chồng anh T4ngủ nên cả hai lén lút vào lấy trộm chiếc xe 63S5-2363. Sau khi lấy được xe 63S5-2363, cả hai đem xe này đến tiệm sửa xe của Dương Hoàng T5, Hấy dụng cụ (do đã sửa xe nhiều lần tại tiệm anh T5) tháo dàn áo, biển số, cà số khung, thay đổi màu sơn nhằm thay đổi kết cấu xe tránh bị phát hiện. Hhẹn cho B.000 đồng để lấy xe 63S5-2363 sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 28/7/2023 Hụng xe 63S5-2363 (đã tháo bỏ biển số) chở T1 hiện hành vi cướp xe đạp điện của em Bùi Tiến Đ1.

Vật chứng, đồ vật thu giữ, xử lý:

- 01 (một) xe đạp điện hiệu Asama màu đỏ - đen không có vè phía trước, không có gắn rổ; 01 (một) bộ điều khiển xe đạp điện màu trắng có ký hiệu MTD 36V/48V-350W 08-2020; 01 (một) cái vè xe đạp điện màu đỏ trắng dài 80cm, có hình cong được hàn gắn với một thanh kim loại màu đen hình chữ U dài 56cm, hai đầu được uốn cong dạng khoen móc; 01 (một) cái vè xe đạp điện màu đỏ trắng có chiều dài 50cm, được uốn cong, một đầu gắn với một miếng nhựa màu đen có chiều dài 8.5cm, vè xe được hàn gắn với một thanh kim loại màu đen hình chữ U có chiều dài 55cm, hai đầu được uốn cong dạng khoen móc. Các tài sản trên là của chị Dương Thị Ngọc P, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cả lại cho chị P

- 01 (một) xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave màu đen, không gắn biển số, xe không có bửng, không kính chiếu hậu. Kết luận giám định số 1356/KL-KTHS (Đ2) ngày 01/8/2023 của Phòng Kng an tỉnh Tuận: Số khung trước giám định: mài mòn, số khung sau giám định: số nguyên thủy bị mài mòn, không đọc được, số máy HC09E-3024467 trước và sau giám định không đổi. Đây là tài sản hợp pháp của anh Dương Thành T4 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cả lại anh T4g.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐG ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Gianguận: 01 (một) xe đạp điện hiệu Asama màu đỏ - đen, phía trước không có rổ có giá trị là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐG ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Gianguận: 01 (một) xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave A màu xanh, biển số 63S5-2363 có giá trị là 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phi H nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và không thay đổi. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Đề nghị áp dụng điểm e khoản 2 điều 168, điểm b, s khoản 1 điều 51, điều 32, 38, 50, khoản 2 điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 3 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại, anh T4g nên không đặt ra xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khi phạm tội là trẻ em nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là hộ nghèo, bị cáo thiếu sự quan tâm của gia đình, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị khi lượng hình cân nhắc mức án thấp nhất để tạo cơ hội cho bị cáo làm lại cuộc đời.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất ý kiến người bào chữa, không có ý kiến tranh luận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có bản luận cứ bảo vệ cho bị hại, thống nhất với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo, đề nghị hội đồng xét xử xem xét gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị hại đã nhận số tiền bồi thường để xem xét những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Hữu T1h bày T1ị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, quyền lợi của T1g bị ảnh hưởng nên không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Minh B, Nguyễn Phi L mặt không tham dự phiên tòa. Xét sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra truy tố xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phi Hhai nhận khoảng 11 giờ ngày 28/7/2023 tại đường huyện lộ 32B đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giango đã có hành vi dùng chân đạp vào xe đạp, dùng tay đánh nhiều cái vào người Bùi Tiến Đ1cướp tài sản là 01 chiếc xe đạp điện. Xét lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết luận định giá là 2.500.000 đồng. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Phi H tội “Cướp tài sản” qui định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với người dưới 16 tuổi do lỗi cố ý, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất an ninh tại địa phương. Tuy nhiên xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường theo yêu cầu của bị hại, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem đây là tình tiết để giảm nhẹ phần nào mức án cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên cần căn cứ các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 90, 91 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo. Xét bị cáo tuy còn nhỏ tuổi nhưng hành động liều lĩnh, xem thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng để phòng chống tội phạm thanh thiếu niên phạm tội trong tình hình hiện nay. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp cho gia đình.

Đối với Đỗ Hữu T1, sinh ngày 24/9/2009 có tham gia cùng bị cáo Nguyễn Phi H hiện hành vi “Cướp tài sản”. Tuy nhiên, tính đến ngày 28/7/2023 thì T1 đủ 14 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo qui định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang chuyển hồ sơ đến Ủy ban xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giangyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Đỗ Hữu T1ó cơ sở.

Nguyễn Phi L ngày 28/7/2023 HLnhà của T1chạy dùm xe đạp điện hiệu Asama màu đỏ - đen đem về nhà. Lg biết xe này do H1 được mà có và L đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo qui định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ xử lý.

Theo H nhận còn thực hiện một vụ “Trộm cắp tài sản” là 01 xe mô tô Wave A màu xanh, biển số 63S5-2363, xảy ra ngày 21/5/2023 cùng với Nguyễn Minh B, sinh ngày 30/3/2009, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Theo Kết luận định giá tài sản là 4.500.000 đồng, đã đủ định lượng, phạm tội theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội là ngày 21/5/2023 thì Ha đủ 16 tuổi. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự thì Ha đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đồng thời, chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Nguyễn Phi Hguyễn Minh B khi trộm cắp xe 63S5-2363 có đem xe đến tiệm anh Dương Hoàng Tân m cụ để tháo dàn áo, biển số, cà số khung, thay đổi màu sơn. Tuy nhiên, anh T5n toàn không biết xe này do Hm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không xem xét trách nhiệm hình sự đối vói anh T5có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Dương Thị Ngọc Pu bị cáo Nguyễn Phi Hthường chi phí sửa xe đạp điện 900.000 đồng, bị cáo tác động gia đình bồi thường xong, chị Pyêu cầu gì khác.

Anh Dương Thành T4 cầu bị cáo Nguyễn Phi Hthường chi phí sửa xe 63S5-2363 do bị thay đổi kết cấu xe là 7.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 2.000.000 đồng, Tại phiên toà, anh T4ng nhất số tiền bồi thường 2.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp. Xét sự tự nguyện của anh T4phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét quan điểm luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phi H miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H tội: “Cướp tài sản”

Áp dụng điểm e khoản 2 điều 168, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 54, điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi Hba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 29/7/2023.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại 900.000đồng, bồi thường cho anh Dương Thành T400.000 đồng. Bị hại, đại diện bị hại, anh T4ng yêu cầu gì thêm.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo, đại diện bị cáo, người bào chữa của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ