- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 957/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về tranh chấp "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/3/2024 V/v tranh chấp: "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Vinh
2. Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thư Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 957/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về tranh chấp "Ly hôn"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trúc Linh G - Sinh năm: 1995
ĐKHKTT: 211 Tổ B, thôn X, xã V, TP ., tỉnh Khánh Hòa. Bà G vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Hồ Văn S - Sinh năm: 1990
ĐKHKTT: Thôn Đ, xã V, TP ., tỉnh Khánh Hòa. Ông S vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Trúc Linh G trình bày:
Tôi và ông Hồ Văn S tự nguyện đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tuy nhiên, mấy năm gần gây, tôi và ông S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân nặng nề không hạnh phúc và đã ly thân với nhau từ năm 2020. Nay, tôi xác định tình cảm không còn, vợ chồng chỉ trên danh nghĩa nên làm đơn xin Tòa án cho được ly hôn với ông S để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Tôi và ông S có 01 con chung là cháu Hồ Anh Đ sinh ngày 04/3/2016. Tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn ông Hồ Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt tại Tòa để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Hồ Văn S vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trúc Linh G và ông Hồ Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Khánh Hòa vào năm 2015; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng cần có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông S không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng không tôn trọng nhau, cuộc sống hôn nhân đầy áp lực làm ảnh hưởng đến tinh thần hai bên là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông S đã không đến Tòa án làm việc cũng như cho lời khai về mối quan hệ hôn nhân với bà G cho thấy, ông S cũng không muốn níu kéo mối quan hệ hôn nhân trên và bà G khẳng định không còn tình cảm với ông S nên xin ly hôn. Mặt khác, theo nội dung xác minh tại địa phương nơi ông S và bà G sinh sống ghi nhận, ông bà có mâu thuẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng. Như vậy, mục đích hôn nhân của bà G và ông S không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của bà G là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo giấy khai sinh và lời khai của nguyên đơn thể hiện có con chung là cháu Hồ Anh Đ - sinh ngày 04/3/2016. Xét thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao cháu cho bà G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu và quy định của pháp luật.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Trúc Linh G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Trúc Linh G không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung nên không xem xét.
Án phí: Căn cứ điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Nguyên đơn bà Nguyễn Trúc Linh G phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Trúc Linh G
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trúc Linh G và ông Hồ Văn S được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung là Hồ Anh Đ - sinh ngày 04/3/2016 cho bà Nguyễn Trúc Linh G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, sau khi ly hôn.
Ông Hồ Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Trúc Linh G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Trúc Linh G không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
5. Án phí: Bà Nguyễn Trúc Linh G phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0000098 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Nguyễn Trúc Linh G đã nộp đủ án phí.
Quy định:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND TP. Nha Trang; - Chi cục THADS TP Nha Trang; - UBND X Vĩnh Phương, TP. Nha Trang; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa Nguyễn Cát Hoàng Trân |