- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ giữa Nguyễn Thị H - Đào Xuân D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Đào Xuân D
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HNGĐ - ST Ngày 18/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Hoan và ông Nguyễn Thanh Hải
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/QĐST - HNGĐ ngày 30/7/2024 giữa các đƣơng sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Nơi cƣ trú: Thôn Đan T, xã Đức C, huyện Cẩm G, tỉnh Hải Dƣơng;
Bị đơn: Anh Đào Xuân D, sinh năm 1975; Nơi ĐKHKTT: Thôn Nhƣ L, xã Phƣợng K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức – Cục C10 Bộ Công An; Địa chỉ: xã Tân Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
(Chị H, anh D đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Đào Xuân D kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đƣợc UBND xã Phƣợng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 27/5/2009. Sau ngày cƣới vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn, anh D vào Miền Nam làm ăn, chị H về quê mẹ đẻ sinh sống. Năm 2011 anh D vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án, năm 2017 anh chấp hành xong hình phạt về địa phƣơng nhƣng do anh chơi bời không lo toan cuộc sống gia đình nên vợ chồng sống không có hạnh phúc. Do cuộc sống quá áp lực chị đã để con ở nhà cho anh D nuôi dƣỡng chị đi lao động tại Nhật Bản, anh D ở nhà đã gửi con về quê ngoại và anh tiếp tục vào Miền Nam. Năm 2019, anh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị Công an huyện Hóc Môn thành, phố Hồ Chí Minh bắt và đã bị xử phạt 09 năm tù. Hiện anh D đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức.Trƣớc khi anh D bị bắt tôi đã khuyên bảo nhiều nhƣng anh D không nghe, vẫn chơi bời, vi phạm pháp luật, bỏ mặc con cho bà ngoại nuôi dƣỡng khi tôi đi làm xa. Từ khi kết hôn với anh, chị không có hạnh phúc; xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh D.
Về con chung: Chị và anh D có một con chung là Đào Xuân T, sinh ngày 25/4/2010. Hiện nay con chung đang ở với chị. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh D phải cấp dƣỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai bị đơn Đào Xuân D trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau là tự nguyện, đƣợc UBND xã Phƣợng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào năm 2009. Quá trình chung sống vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì lớn. Đến năm 2019 anh đi chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức với mức phạt là 09 năm tù. Nay chị H có đơn xin ly hôn, anh xác định còn 18 tháng nữa là chấp hành án xong án nên không nhất trí ly hôn. Do không nhất trí ly hôn nên anh D không ký vào biên bản của Tòa án.
Về con chung: Anh D và chị H có một con chung là Đào Xuân T, sinh ngày 25/4/2010, hiện nay cháu Tiến đang ở với ông bà ngoại, anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến gì về việc nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại biên bản lấy lời khai anh Đào Xuân Hùng trình bày: Anh là em ruột của anh D, việc kết hôn của anh D, chị H là tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị sống tại quê chồng đƣợc một thời gian ngắn, đến năm 2018 anh D đi làm ăn ở Miền Nam, chị H đi xuất khẩu lao động anh chị gửi con ở bà ngoại nuôi. Năm 2019 anh D vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy và hiện đang chấp hành án tại phân trại 6, trại giam Thủ Đức, anh chị đã không sống cùng nhau nhiều năm nay. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh D, việc ly hôn là của anh D, chị H, anh không can thiệp, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã Phượng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xác định: Anh D và chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đƣợc UBND xã Phƣợng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 27/5/2009. Trƣớc khi kết hôn với chị H, năm 2003 anh D đã vi phạm pháp luật về ma túy, sau khi kết hôn năm 2011 anh D bị bắt về tội Mua bán trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành án xong về địa phƣơng, anh D lại đi làm xa, anh chị có thời gian ngắn sống cùng nhau. Năm 2019 anh D đã vi phạm pháp luật, bị Công an huyện Hóc Môn thành, phố Hồ Chí Minh bắt và bị xử phạt 09 năm tù. Do anh chị thƣờng xuyên vắng mặt tại địa phƣơng nên mâu thuẫn của anh chị địa phƣơng không nắm đƣợc. Theo quan điểm của địa phƣơng nếu chị H kiên quyết xin ly hôn anh D, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị H đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày. Anh D đang chấp hành án tại trại giam Thủ Đức, tòa án đã gửi Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh D , anh không nhất trí ly hôn nên anh không có quan điểm gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thƣ ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Đào Xuân D; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Đào Xuân T, sinh ngày 25/4/2010 đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện ly hôn anh Đào Xuân D; nơi ĐKHKTT trƣớc khi đi chấp hành án tại xã Phƣợng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết do anh D đang chấp hành án tại Trạm giam nên không thể đến Tòa án làm việc đƣợc, anh D đã có lời khai trình bày quan điểm, anh D vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên tòa chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh D đã đƣợc triệu tập hợp lệ vắng mặt lần thứ 2; HĐXX căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Xuân D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phƣợng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng ngày 27/5/2009. Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị H, anh D, anh Hùng và biên bản xác minh tại địa phƣơng, HĐXX xác định trong cuộc sống anh chị đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D chơi bời không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến nhiều lần vi phạm pháp luật, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Thời gian anh D đi chấp hành án ở trại giam Thủ Đức, do vợ chồng đã mâu thuẫn, anh D không nghe lời khuyên bảo của chị nên chị cũng không đến để thăm gặp, vợ chồng không còn tình cảm. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc.Vì vậy, căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị H ly hôn anh D là phù hợp.
Về con chung: Chị H và anh D có một con chung là Đào Xuân T, sinh ngày 25/4/2010. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và chị tự nguyện không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con; nguyện vọng của cháu Tiến muốn đƣợc ở với chị. Anh D không nhất trí ly hôn nên không có quan điểm về việc nuôi con. Xét thấy, con chung đang ở ổn định với chị H. Do vậy, HĐXX cần giao con chung Đào Xuân T cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dƣỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung: Chị H, anh D không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều: 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Đào Xuân D
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung là Đào Xuân T, sinh ngày 25/4/2010 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con.
Anh Đào Xuân D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004845 ngày 14/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Các đƣơng sự; - UBND xã Phƣợng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, Hải Dƣơng; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Lƣu hồ sơ vụ án, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Nhân Trác |