- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với anh H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01/7/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan
Bà Nguyễn Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024; Quyết định Hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1986
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1983
Cùng địa chỉ: Số 3, khu 1, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Chị T và anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Thành T tự nguyện kết hôn và được UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/8/2010. Đây là hôn nhân lần thứ nhất của chị T.
Sau khi kết hôn vợ chồng cùng sống chung với gia đình anh T tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến năm 2013 thì vợ chồng mua đất xây nhà ở xã H, huyện T sinh sống đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm đến năm 2020 thì thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Tính tình anh T rất gia trưởng, luôn quản lý mọi vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của chị T như khi chị T đi làm đẹp xăm mày môi khi về đến nhà anh T lớn tiếng chửi bới, xúc phạm chị T và còn đánh chị T (việc đánh đập không để lại thương tích nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết). Mặt khác anh T không lo làm ăn quan tâm đến gia đình mà thường gặp bạn bè nhậu nhẹt say xỉn về nhà kiếm chuyện chửi bới, xúc phạm chị T và gia đình. Nhiều lần chị T cho anh T cơ hội thay đổi nhưng anh T vẫn chứng nào tật đấy.
Tháng 8 năm 2023 chị T đã làm đơn yêu cầu ly hôn với anh T nhưng vì mong muốn cho anh T cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh T vẫn chứng nào tật đấy dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng.
Từ cuối năm 2023 đến nay mặc dù vợ chồng vẫn sống chung nhà với nhau nhưng không ai quan tâm đến ai, việc ai nấy làm. Nay chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành Trung.
Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 04/7/2010 và cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2015. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung. Tạm thời chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay nghề nghiệp của chị T làm công nhân, thu nhập trung bình mỗi tháng là 8.000.000đ (Tám triệu đồng) đủ khả năng nuôi dưỡng hai con chung.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/12/2023 bị đơn anh Nguyễn Thành T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị Nguyễn Thị Ánh T quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 04 năm và được UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/8/2010.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau tại gia đình của anh T tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến năm 2013 thì vợ chồng cùng mua đất, xây nhà và sinh sống tại xã H, huyện T đến nay.
Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống. Anh T thừa nhận có lần anh nghi ngờ, ghen tuông chị T có biểu hiện không chung thủy dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Sau đó hai vợ chồng có ngồi nói chuyện, hòa giải nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Trong cuộc sống thì anh T thừa nhận nóng tính nên khi gặp vấn đề trong gia đình thì có lớn tiếng chửi vợ con.
Hiện nay vợ chồng vẫn sống chung nhà với nhau, anh T nhận thấy vẫn còn thương vợ, con và muốn vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con chung nên anh T không đồng ý ly hôn, anh T mong muốn vợ rút đơn khởi kiện về để đoàn tụ nhau. Về biện pháp hàn gắn tình cảm thì anh T sẽ bớt tính nóng và sẽ nghe theo lời vợ để vợ chồng đoàn tụ. Ngoài ra thì anh T không còn biện pháp hàn gắn nào khác.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 04/7/2010 và cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2015. Do anh không đồng ý ly hôn mong vợ chồng về đoàn tụ nên anh không có ý kiến về vấn đề con chung.
Về tài sản: Anh Nguyễn Thành T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ riêng: Không có
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh T được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 04/7/2010 và cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2015 cho chị Nguyễn Thị Ánh T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
+ Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn đang cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Nguyễn Thành T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/8/2010, căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có. Ngày 14/8/2023, chị T đã nộp đơn ly hôn với anh T tại Tòa án nhưng chị T đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 163/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2023 để vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên, cả chị T và anh T đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2020. Từ cuối năm 2023 đến nay vợ chồng sống chung nhà với nhau nhưng không ai quan tâm đén ai và cũng không cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình.
Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Xét yêu cầu đoàn tụ của bị đơn: Anh T thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng nhưng anh không đồng ý ly hôn vì anh xác định vẫn còn tình cảm với chị T và anh mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ. Tuy nhiên, anh T cũng khẳng định không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với chị T. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị T đều không có thiện chí hàn gắn tình cảm với anh T. Do đó, yêu cầu của anh T là không có cơ sở và không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng chung sống cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 04/7/2010 và cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2015.
Xét thấy hiện con chung đang sống với chị T và chị T đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung. Mặt khác hai con chung đều có nguyện vọng được sống chung với chị T. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị T không yêu cầu nên tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T và anh T đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Nguyễn Thành T được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1. Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 04/7/2010 và cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2015 cho chị Nguyễn Thị Ánh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2 Anh Nguyễn Thành T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Tạm thời anh Nguyễn Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Ánh T không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0002483 ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Thị Ánh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CC THADS huyện Thống Nhất; - UBND xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Châu Ngọc Hà |