- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị H ly hôn anh Nguyễn Minh V và yêu cầu giải quyết về con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn Minh V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09-7-2024. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Nhót và bà Võ Thị Thanh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn, là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 07/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1987 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi ĐKTT: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Nơi ở hiện tại: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
B đơn: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1985 – Vắng mặt.
Nơi ĐKTT: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Nơi ở hiện tại: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10-11-2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ch Trần Th H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Minh V ngày 10 tháng 9 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Long, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống với nhau tại nhà bố mẹ anh V ở xã Bình Long, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 2013 chúng tôi chuyển đến Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, ở nhà thuê. Hiện tại tôi và anh V đang ở chung nhà. Tuy nhiên, về quan hệ vợ chồng thì từ tháng 8 năm 2023 đến nay không còn.
Anh V nhiều tháng nay uống rượu, kiếm chuyện gây gỗ, đánh đập vợ, con và phá đồ đạc trong nhà. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn với anh V nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh V.
Về con chung: Quá trình chung sống tôi và anh Nguyễn Minh V có 03 con chung là Nguyễn Minh U, sinh ngày 31-01-2010, học lớp 8 trường TNCS Trần Phú (xã N, huyện Đ); Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 22-11-2012, học lớp 6 trường TNCS Trần Phú (xã N, huyện Đ) và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 19-10-2015, học lớp 3 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã N, huyện Đ). Cả 03 con đang sống chung với tôi và anh V ở nhà thuê. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng nuôi cả 03 con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Minh V đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng không hợp tác, không có mặt tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông để làm việc nên không có trình bày.
Kết quả thu thập chứng cứ: Đại diện chính quyền địa phương cung cấp, anh Nguyễn Minh V có đăng ký thường trú tại Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; hiện tại anh V đang thuê phòng trọ, sinh sống tại Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Về mâu thuẫn giữa anh Nguyễn Minh V và chị Trần Thị H, do không thông báo, không yêu cầu giải quyết nên chính quyền địa phương không nắm bắt được.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
Về tố tụng: Đảm bảo đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Trần Thị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Minh V và xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Minh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không hợp tác, thể hiện việc không có nguyện vọng hàn gắn nên yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh V. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; anh V không hợp tác làm việc với Tòa án để trình bày nguyện vọng của mình đối với việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên không có cơ sở giao con chung cho anh V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về con chung, giao Nguyễn Minh U, sinh ngày 31-01-2010; Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 22-11-2012 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 19-10-2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về tố tụng: Chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Minh V và giải quyết về con chung; anh Nguyễn Minh V đăng ký thường trú tại Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và hiện đang sinh sống tại Thôn B, xã Nam Bình, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Minh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị H và anh V.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Minh V đăng ký kết hôn ngày 10-9-2008 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Long, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, từ giữa cuối năm 2023, giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Minh V thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi không thể hòa giải được, nguyên nhân là do cả hai không còn cùng quan điểm sống về nhiều vấn đề. Mặc dù chi hội phụ nữ Thôn B, xã N và Hội Liên hiệp phụ nữ xã N, huyện Đ không nắm bắt được tình trạng mâu thuẫn giữa anh V và chị H do các đương sự không trình báo, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, các con chung của anh chị đều trình bày ba mẹ thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do anh V uống rượu, bia về gây chuyện. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã nhiều lần tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng và gọi điện thoại để thông báo, triệu tập anh V đến làm việc nhưng anh V từ chối hợp tác; những điều này thể hiện anh V không có nguyện vọng hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị H, từ bỏ các quyền và nghĩa vụ được trình bày, cung cấp tài liệu, chứng cứ của bị đơn; quyền trình bày, hòa giải tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như quyền trình bày, thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa theo các quy định tại Điều 72, chương XIII và XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh V và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H xin ly hôn với anh Nguyễn Minh V là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Minh V có 03 con chung là Nguyễn Minh U, sinh ngày 31-01-2010; Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 22-11-2012 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 19-10-2015. Các con hiện đang ở chung với chị H và anh V. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Các con chung của chị H và anh V đều có nguyện vọng được ở với mẹ, trình bày anh V có hành vi bạo lực với con. Anh V không hợp tác làm việc với Tòa án nên không thể hiện được nguyện vọng về chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở giao các con chung cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cần giao Nguyễn Minh U, sinh ngày 31-01-2010; Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 22-11-2012 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 19-10-2015 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn Minh V.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh V.
Về con chung: Giao các con chung của chị Trần Thị H và anh Nguyễn Minh V là Nguyễn Minh U, sinh ngày 31-01-2010; Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 22-11-2012 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 19-10-2015 cho chị Trần Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Minh V, là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0001585 ngày 08 tháng 01 năm 2024.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song (02 bản); - Chi cục THADS huyện Đắk Song; - UBND xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Đã ký và đóng dấu Lê Thị Thu Hà |