vanban.org

Bản án 33/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Mỹ D đối với anh Trương Bảo Q.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trương Bảo Q. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Trương Gia B, sinh ngày 05/5/2009 cho chị Trần Thị Mỹ D được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trương Bảo Q không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Dyêu cầu ly hôn anh Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Mỹ D đối với anh Trương Bảo Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/02/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Thành Phương

2. Ông Võ Minh Quang.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 578/2023/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Trương Bảo Q, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số E, Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

( Chị D có mặt, anh Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/10/2023, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D trình bày như sau: Chị và anh Q cưới nhau vào năm 2003, hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/5/2004 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, sống chung nhà nhưng vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị dọn ra ngoài ở và ly thân với anh Q từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay, suốt thời gian ly thân vợ chồng cũng

- 2 -

không gặp gỡ nhau để hòa giải. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Trương Trần T, sinh ngày: 05/5/2004 đã thành niên và Trương Gia B, sinh ngày 05/5/2009, hiện con chung đang ở với mẹ. Sau ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa trưởng thành Trương Gia B và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trương Bảo Q đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh Q biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật nhưng anh Q vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Trần Thị Mỹ D và anh Trương Bảo Q có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã P, huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36/2004, ngày 05/5/2004 nên hôn nhân là hợp pháp.

[1.2] Anh Trương Bảo Q là bị đơn, hiện nay đang cư trú tại ấp B, xã P, huyện C nên khi chị D có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn anh Trương Bảo Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Chị D và anh Q cưới nhau vào năm 2003, sau một thời gian chung sống với nhau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị D trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Dù đây chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong đời sống vợ chồng nhưng cả chị D và anh Q đều không tìm được biện pháp để khắc phục dẫn đến vợ chồng ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Anh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn không đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa từ đó cho thấy anh Q cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với chị D. Do đó, có đủ căn cứ để chứng minh mâu thuẫn giữa chị D và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trương Bảo Q.

- 3 -

Về nuôi con chung và cấp dưỡng: Giữa chị D và anh Q có 02 người con chung tên Trương Trần T, sinh ngày: 05/5/2004 đã thành niên và Trương Gia B, sinh ngày 05/5/2009, hiện con chung đang ở với mẹ. Xét thấy hiện tại cháu Trương Trần T đã thành niên và có đủ năng lực hành vi dân sự, cháu Trương Gia B đang sống với chị D đã ổn định, và có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với mẹ, chị D yêu cầu tiếp tục được nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D về việc yêu cầu trực tiếp nuôi cháu B. Anh Q được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thăm nom chăm sóc con được thực hiện theo điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, chị D không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị D trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung không có nên không xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình để sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147 và khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Mỹ D đối với anh Trương Bảo Q.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trương Bảo Q.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Trương Gia B, sinh ngày 05/5/2009 cho chị Trần Thị Mỹ D được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trương Bảo Q không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84, Điều 85, Điều 86 Luật hôn

- 4 -

nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 00002617 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, chị D đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ