vanban.org

Bản án 33/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Đoàn Công P về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Đoàn Công P. Về con chung: Buộc anh Đoàn Công P phải giao con chung là Đoàn An N, sinh ngày 16/02/2019 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Hoài- Phú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Đoàn Công P về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ- ST
Ngày : 21.6.2024
V/v tranh chấp: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Hồng Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 253/2023/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự số 01/TB-TA ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn 4, xã Lộc P, huyện B, tỉnh Lâm Đồng

- Bị đơn: Anh Đoàn Công P, sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn 5, xã Lộc Q, huyện B, tỉnh Lâm Đồng

Chị H có mặt, anh P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/10/2023 các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đoàn Công P chung sống với nhau từ năm 2017, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc P, huyện B, tỉnh Lâm Đồng ngày 20/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống ổn định tại thôn 5, xã Lộc Q, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Anh P không chung thủy với vợ, ngoại tình nhiều lần. Chị H đã tha thứ cho anh P, cố gắng hàn gắn vợ chồng nhưng anh P không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, đã ly thân. Chị H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Đoàn Công P.

Về con chung: Quá trình chung sống chị H và anh Đoàn Công P có 01 con chung là Đoàn An N, sinh ngày 16/02/2019. Chị H yêu cầu nuôi con chung đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống cả hai không tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Quá trình chung sống cả hai không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đoàn Công P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc nên không có lời khai nào.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/3/2024 nhưng không thành vì chị H có mặt còn anh P vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Kết thúc phần tranh luận, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm không tham gia phiên tòa nên không phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Đoàn Công P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của phá luật.

2. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đoàn Công P chung sống với nhau từ năm 2017, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lộc P, huyện B, tỉnh Lâm Đồng ngày 20/12/2017. Đây là quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống thôn 5, xã Lộc Q, huyện B và hạnh phúc được một thời gian sau đó có phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên không thể hàn gắn được và đã ly thân. Chị H có mặt khi Tòa án giải quyết vụ án, anh P được triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng không hợp tác, đến nay không có lời khai nào. Tòa án có hòa giải đoàn tụ nhưng chị H có mặt, anh P đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa chị H vẫn kiên quyết ly hôn và cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, còn anh P vắng mặt. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh P đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đoàn tụ, tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy Hội đồng xết xử cần căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H được ly hôn với anh P là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về con chung: Căn cứ lời khai chị H, các bản khai sinh của con do chị H xuất trình thì quá trình chung sống chị H và anh P có 01 con chung là Đoàn An N, sinh ngày 16/02/2019. Hiện nay chị H đang trực tiếp nuôi con và có đủ điều kiện nuôi con, có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con đến khi đủ 18 tuổi. Anh P không đến làm việc nhiều lần nên không thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với nuôi con chung. Xét thấy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần giao con chung là Đoàn An N, sinh ngày 16/02/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là có cơ sở. Về cấp dưỡng, chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H và anh P không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết

Về nợ chung: Hoài và anh P không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Đây là vụ án không có giá ngạch, cần buộc chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 70, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Đoàn Công P về việc “Ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Đoàn Công P.

2. Về con chung: Buộc anh Đoàn Công P phải giao con chung là Đoàn An N, sinh ngày 16/02/2019 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

“Quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai nộp tiền số 0013093 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ