- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bản án DSST giữa Ngân hàng Nn - Nguyễn Thanh T, T"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/DSST Ngày: 19-6-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Chín;
2/ Bà Lê Thị Thận;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2024/TLST – DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST - DS, ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn V
Địa chỉ: số 2, L, B, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Phước V
(Theo quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 và giấy ủy quyền số 05/UQ-TA lập ngày 18/03/2024)
Địa chỉ: Khu Đ, TT Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1983
Cư trú tại: Thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Bạch T, sinh năm: 1979
Cư trú tại: Thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước
(Nguyên đơn và Bị đơn có mặt; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29-02-2024 của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn V và trong quá trình xét xử đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Phước V trình bày:
Ngày 19 tháng 01 năm 2021, ông Nguyễn Thanh T cùng bà Võ Thị Bạch T (bà Võ Thị Bạch T ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh T tiến hành các thủ tục vay vốn theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 03 tháng 01 năm 2018) và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn V - Chi nhánh Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước - (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký kết Hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021. Theo đó, Ngân hàng cho ông Nguyễn Thanh T vay vốn để chăm sóc cà phê với số tiền vay: 500.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng chẵn). Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng đến hết ngày 18/01/2022. Lãi suất tại thời điểm kí hợp đồng tín dụng: 8,9%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả 9,5%/ năm. Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất điều chỉnh. Định kỳ trả lãi: 06 tháng/lần kể từ ngày giải ngân.
Để đảm bảo nợ vay theo hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021, Ngân hàng đã ký kết với ông Nguyễn Thanh T hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 038480/HĐTC ngày 19/01/2021, được chứng thực tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đ để thế chấp tài sản sau: Quyền sử dụng đất có diện tích 401,6m2, tọa lạc thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11 (đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 829570, số vào sổ cấp GCN: CS 01516 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/12/2017 đứng tên ông Nguyễn Thanh T cùng vợ là bà Võ Thị Bạch T). Việc thế chấp quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh T đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Ông Nguyễn Thanh T đã cam kết nếu không thực hiện đúng những điều khoản đã nêu trong hợp đồng tín dụng thì sẽ bị xử lý theo pháp luật quy định.
Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân đúng như trong hợp đồng đã ký giữa hai bên. Từ lúc giải ngân cho đến nay, ông Nguyễn Thanh T và bà Võ Thị Bạch T không thực hiện nghĩa vụ đóng tiền lãi cho Ngân hàng. Đến thời hạn trả nợ thì ông Nguyễn Thanh T không thực hiện nghĩa vụ trả đầy đủ gốc nợ lãi cho ngân hàng theo nội dung của Hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc thu hồi nợ nhưng ông Nguyễn Thanh T vẫn không trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không bị ảnh hưởng xấu bởi hành vi vi phạm của ông Nguyễn Thanh T. Nay Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Thanh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V số tiền gốc là 500.000.000đ và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021 tính đến xét xử (ngày 19/6/2024) là: 202.660.000 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 20/6/2024 cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nói trên.
Trường hợp ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp ghi nhận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 038480/HĐTC ngày 19/01/2021 để Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thành Tâm trình bày: Ông và bà Võ Thị Bạch T là vợ chồng. Ông hoàn toàn thống nhất với lời khai của Ngân hàng về việc vay tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn V - Chi nhánh Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi vay vốn tại Ngân hàng, vợ chồng ông bà có thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 401,6m2 tọa lạc thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11 (đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 829570, số vào sổ cấp GCN: CS 01516 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/12/2017 đứng tên ông Nguyễn Thanh T cùng vợ là bà Võ Thị Bạch T). Việc vay vốn và thế chấp có ký hợp đồng như Ngân hàng trình bày. Ông bà đã được nhận số tiền cho vay là 500.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng ông bà không có đóng tiền lãi theo thỏa thuận. Đến thời hạn trả tiền vay thì do điều kiện kinh tế khó khăn nên không thực hiện việc trả tiền theo thỏa thuận được. Nay Ngân hàng khởi kiện, ông bà đồng ý trả số tiền vay 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh và đề nghị Ngân hàng cho ông bà phương án trả nợ phù hợp như là trả làm nhiều lần. Trường hợp vợ chồng ông bà không trả được tiền vay, tiền lãi cho Ngân hàng thì đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp ghi nhận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 038480/HĐTC ngày 19/01/2021 để Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị Bạch T trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh T là vợ chồng. Bà thừa nhận bà có làm giấy ủy quyền để ông Nguyễn Thanh T đi vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn V - Chi nhánh Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Bà hoàn toàn đồng ý với lời khai của ông Nguyễn Thanh T. Nay Ngân hàng khởi kiện bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX thực hiện đúng các quy định về tố tụng.
- Ý kiến về giải quyết vụ án:
Đối với yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V, buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T liên đới trả tiền vay 500.000.000đ và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận của các bên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm khi ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V khởi kiện ông Nguyễn Thanh T yêu cầu trả số tiền vay và tiền lãi. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T cư trú tại thôn 3, xã Nghĩa Bình, huyện B, tỉnh Bình. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định thẩm quyền giải quyết vụ án nói trên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
Xét giao dịch giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Thanh T được lập ngày 19 tháng 01 năm 2021. Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V yêu cầu ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T trả số tiền vay 500.000.000đ:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V khai nhận Ngân hàng có cho ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T vay số tiền 500.000.000đ, vay ngày 19/01/2021, thời hạn vay là 12 tháng. Ngân hàng cung cấp cho Tòa án Hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021 (bút lục số 25) để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh T và bà Võ Thị Bạch T thừa nhận lời khai của Ngân hàng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, có đủ cơ sở xác định việc ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T vay tiền của Ngân hàng là có thật.
Trong Hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021 có ghi nhận “Thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày ký đến hết ngày 18/01/2022”. Như vậy, thời hạn ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T phải trả tiền vay cho Ngân hàng chậm nhất là ngày 18/01/2022. Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Do bên vay tài sản vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T trả số tiền vay 500.000.000đ là có cơ sở.
Xét yêu cầu trả tiền lãi: Nguyên đơn khai nhận ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T chưa có thanh toán số tiền lãi cho Ngân hàng. Ông Nguyễn Thanh T và bà Võ Thị Bạch T thừa nhận việc này. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 19/01/2021 đến ngày 19/6/2024 (ngày xét xử) với số tiền là 214.400.535đ (có bảng kê kèm theo). Xét, theo nội dung của số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021 thì lãi suất cho vay là 8,9%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả 9,5%/ năm, thời hạn vay là 12 tháng. Do đó, xác định đây là hợp đồng vay có thời hạn và vay có lãi. Tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận…. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”. Tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này”. Xét, các bên tự nguyện thỏa thuận việc tính lãi tại hợp đồng tín dụng là không vi phạm điều cấm của pháp luật về giao dịch tín dụng. Do đó, có giá trị ràng buộc quyền, nghĩa vụ trả lãi của các bên. Mặt khác, lãi suất mà Ngân hàng áp dụng với ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T là phù hợp với lãi suất đã được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng và ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T vi phạm nghĩa vụ trả lãi. Do đó, căn cứ vào khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trả tiền lãi của Ngân hàng.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn: Ngân hàng khai nhận khi ký kết hợp đồng tín dụng thì ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T có thế chấp Quyền sử dụng đất có diện tích 401,6m2, tọa lạc thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11 (đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 829570, số vào sổ cấp GCN: CS 01516 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/12/2017 đứng tên ông Nguyễn Thanh T cùng vợ là bà Võ Thị Bạch T). Việc thế chấp có làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 038480/HĐTC ngày 19/01/2021, được chứng thực tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đ và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 14/8/2007. Căn cứ vào Điều 298, Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định Hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm gồm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Do đó, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm khi ông Nguyễn Thanh T, bà Võ Thị Bạch T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Về các nội dung khác:
[7.1] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ là 3.000.000đ. Tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Do yêu cầu xử lý tài sản của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Thanh T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ. Tại khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”. Do đó, cần buộc ông Nguyễn Thanh T hoàn trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ là 3.000.000đ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V.
[7.2] Về án phí: Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016 quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.”. Do đó, bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
[7.3] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 299, Điều 320, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
- Căn cứ vào Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V số tiền vay là 500.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử (ngày 19/6/2024) là 214.400.535 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T phải trả là 714.400.535 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5608-LAV-202100087 ký ngày 19/01/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Sau khi bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T thanh toán xong nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V có trách nhiệm trả lại tài sản mà bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 038480/HĐTC ngày 19/01/2021.
Nếu bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T không trả hoặc trả không đủ thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp được ghi nhận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 038480/HĐTC ngày 19/01/2021 để thu hồi nợ.
2/ Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T phải hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V số tiền chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
3/ Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bạch T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 32.576.021 đồng.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V số tiền tạm ứng án phí là 14.715.840 đồng theo biên lai thu tiền số 0009104 lập ngày 03/4/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4/ Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/6/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND t. Bình Phước; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu HS – DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Phương Hạnh |