- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về Hợp đồng dân sự góp hụi giữa chị Trần Thị Thu T và ông Trương Văn X, bà Trần Thị D"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Trương Văn X và bà Trần Thị D phải trả cho chị Trần Thị Thu T số tiền hụi còn nợ là 31.
- Căn cứ chính? Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/DS-ST Ngày: 29-4-2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thanh Nguyên
2. Ông Hà Minh Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp về Hợp đồng dân sự góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1989;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị Trần Thị Thu T: Chị Trần Thị Thu D1, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1986, đại diện theo giấy ủy quyền ngày 09 tháng 4 năm 2024 (có mặt);
Cùng địa chỉ: ấp XV, xã NA, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: - Ông Trương Văn X, sinh năm 1955;
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trương Văn X: Bà Trần Thị D, sinh năm 1962, đại diện theo giấy ủy quyền ngày 14 tháng 3 năm 2024 (có mặt);
- Bà Trần Thị D, sinh năm 1962 (có mặt);
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị B, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp 6Đ, xã N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 25/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị Trần Thị Thu T trình bày và yêu cầu như sau:
Chị tham gia góp hụi ông Trương Văn X và bà Trần Thị D tổ chức dây hụi mở ngày 29 tháng 11 năm 2021 âm lịch, loại hụi 3.000.000 đồng, hàng tháng mở ngày 29, gồm 24 phần, chị tham gia 01 phần, góp hụi sống được 16 lần thì chị Võ Thị B tuyên bố bể hụi (tuyên bố bể hụi ngày 29 tháng 02 năm 2023 âm lịch, tháng 02 sau), chị góp hụi vốn 29.000.000 đồng, theo hụi được lĩnh là 48.000.000 đồng, trừ hoa hồng 2.000.000 đồng, ông Trương Văn X và bà Trần Thị D còn nợ chị số tiền là 46.000.000 đồng. Khi ông Trương Văn X và bà Trần Thị D không trả, chị yêu cầu địa phương giải quyết thì chị và ông Trương Văn X, bà Trần Thị D hẹn trả cho chị mỗi tháng 1.500.000 đồng, sau đó ông Trương Văn X và bà Trần Thị D chỉ trả cho chị 1.500.000 đồng, không trả nữa còn nợ chị số tiền 31.500.000 đồng. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả cho chị tổng số tiền hụi còn nợ là 31.500.000 đồng, chị không yêu cầu chị Võ Thị B trả tiền hụi nói trên, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị D, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trương Văn X trình bày:
Bà xác định, bà và ông Trương Văn X không tham gia góp hụi, vào ngày 29 tháng 11 năm 2021 âm lịch, chị Võ Thị B có mở dây hụi loại hụi 3.000.000 đồng, hàng tháng mở ngày 29, gồm 24 phần, khi đó chị Võ Thị B tổ chức góp hụi, lập danh sách những người hụi viên tham gia góp hụi, bà và ông Trương Văn X cũng phụ gom hụi, do chị Võ Thị B hàng ngày mua bán cua, sau khi chị Võ Thị B tuyên bố bể hụi thì chị Võ Thị B bỏ đi làm thuê, kêu bà và ông Trương Văn X ở nhà thỏa thuận trả nợ, chị Võ Thị B làm có tiền trả từ từ. Khi đó có chị Trần Thị Thu T yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết, bà và ông Trương Văn X thỏa thuận tổng số tiền trả cho chị Trần Thị Thu T là 33.000.000 đồng, bà và ông Trương Văn X trả được 1.500.000 đồng nhưng sau đó chị Trần Thị Thu T không nhận nên xảy ra tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay bà và ông Trương Văn X không có khả năng trả để cho chị Võ Thị B trả, bà và ông Trương Văn X không trả tiếp số tiền nói trên cho chị Trần Thị Thu T, ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
* Tại Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, người làm chứng anh Trương Sa R trình bày như sau:
Anh là chồng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B, kêu nguyên đơn chị Trần Thị Thu T là dì, bị đơn ông Trương Văn X, bà Trần Thị D cha mẹ ruột sống cùng hộ. Anh và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B kết hôn, chung sống với nhau từ năm 2009 đến tháng 9 năm 2023 ly hôn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B tổ chức chơi hụi từ năm 2010 đến tháng 02 năm 2023 âm lịch thì tuyên bố bể hụi, trong đó có chị Trần Thị Thu T tham gia góp, sau khi bể hụi thì chị Võ Thị B có nói với ông Trương Văn X và bà Trần Thị D đứng ra trả nợ thay, khi tranh chấp chị Trần Thị Thu T yêu cầu ấp 6Đ, xã N giải quyết ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả số tiền 48.000.000 đồng, ông Trương Văn X và bà Trần Thị D thỏa thuận với chị Trần Thị Thu T trả số tiền 33.000.000 đồng và hẹn trả cho chị Trần Thị Thu T mỗi tháng 1.500.000 đồng và trả được 1.500.000 đồng, lần sau trả trễ hẹn thì chị Trần Thị Thu T không nhận, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản xác minh ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang như sau:
Chị Võ Thị B, sinh năm 1992, có cư trú tại: ấp 6Đ, xã N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, hiện nay chị Võ Thị B vắng mặt ở nhà và ở địa phương, không biết đang sinh sống ở đâu. Đối với dây hụi mà chị Trần Thị Thu T tham gia với ông Trương Văn X và bà Trần Thị D ai làm chủ hụi thì không xác định rõ, nhưng các dây hụi này bà Trần Thị D và chị Võ Thị B có đi gom hụi, ông Trương Văn X, bà Trần Thị D và chị Võ Thị B phải cùng có trách nhiệm trả số nợ hụi cho chị Trần Thị Thu T theo quy định pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B: Sau khi ông Trương Văn X và bà Trần Thị D xác định chị Võ Thị B làm chủ hụi và tổ chức góp hụi, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Võ Thị B biết để chị có ý kiến về việc ông Trương Văn X và bà Trần Thị D xác định chị Võ Thị B làm chủ hụi và tổ chức góp hụi nợ tiền hụi chị Trần Thị Thu T nhưng chị Võ Thị B không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân tên Trần Thị Thu T (Bản sao) và sổ hộ khẩu (Bản phô tô); Danh sách hụi 3.000.000 đồng áp ngày 29/11/2021 âm lịch (Bản phô tô); Đơn yêu cầu ngày 29/5/2023 của chị Trần Thị Thu T (Bản chính); Biên bản hòa giải ngày 05/7/2023 của ấp 6Đ (Bản chính); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 24/5/2023 của chị Trần Thị Thu T (Bản chính); Biên bản xác minh ngày tháng năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Biên bản lấy lời khai của người làm chứng anh Trương Sa R ngày 29 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị Trần Thị Thu T xác định ông Trương Văn X và bà Trần Thị D làm chủ hụi, yêu cầu ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả cho chị Trần Thị Thu T tổng số tiền hụi còn nợ là 31.500.000 đồng, không yêu cầu chị Võ Thị B trả, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Trần Thị D, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trương Văn X xác định, bà và ông Trương Văn X không làm chủ hụi, không tổ chức tham gia góp hụi mà chị Võ Thị B làm chủ hụi, tổ chức tham gia góp hụi, lập danh sách những người hụi viên tham gia góp, bà và ông Trương Văn X cũng phụ gom hụi, do chị Võ Thị B hàng ngày mua bán cua, sau khi chị Võ Thị B tuyên bố bể hụi thì chị Võ Thị B bỏ đi làm thuê, kêu bà và ông Trương Văn X ở nhà thỏa thuận trả nợ, chị Võ Thị B làm có tiền trả từ từ nhưng nay bà và ông Trương Văn X không có khả năng trả để cho chị Võ Thị B trả, bà và ông Trương Văn X không trả tiếp tiền hụi còn nợ là 31.500.000 đồng cho chị Trần Thị Thu T, ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét khởi kiện của chị Trần Thị Thu T yêu cầu ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả cho chị số tiền hụi sống 31.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận phù hợp quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Thu T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả tiền hụi còn nợ. Bị đơn cư trú tại: ấp 6Đ, xã N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang cho nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi ông Trương Văn X và bà Trần Thị D xác định chị Võ Thị B làm chủ hụi và tổ chức góp hụi, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Võ Thị B biết để chị có ý kiến về việc ông Trương Văn X và bà Trần Thị D xác định chị Võ Thị B làm chủ hụi và tổ chức góp hụi nợ tiền hụi chị Trần Thị Thu T nhưng chị Võ Thị B không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Võ Thị B vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Võ Thị B nhưng chị Võ Thị B vẫn cố tình vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đồng thời tại phiên toà lần thứ hai, chị Trần Thị Thu D1 người đại diện hợp pháp nguyên đơn và bị đơn bà Trần Thị D, đồng thời bà Trần Thị D là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trương Văn X không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị B theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét về hợp đồng góp hụi giữa chị Trần Thị Thu T và ông Trương Văn X, bà Trần Thị D xác lập 29 tháng 11 năm 2021 âm lịch bằng lời nói, hụi có lãi và có hoa hồng, không thỏa thuận bằng văn bản, không công chứng, chứng thực danh sách hụi, không ghi đầy đủ họ và tên, số giấy chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân; ngày tháng năm sinh, nơi cư trú của chủ họ, thể thức góp hụi, lĩnh hụi, mức hưởng hoa hồng của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng, lãi suất trong họ có lãi; quyền và nghĩa vụ của chủ họ là thực hiện chưa đúng hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, nay xảy ra tranh chấp, yêu cầu giải quyết, được xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Xét khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Thu T yêu cầu ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả số tiền hụi theo hụi được lĩnh là 31.500.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, ý kiến trình bày và yêu cầu của chị Trần Thị Thu T, ông Trương Văn X, bà Trần Thị D và người làm chứng anh Trương Sa R đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Danh sách hụi áp ngày 29 tháng 11 năm 2021 âm lịch, Biên bản hòa giải ngày 05 tháng 7 năm 2023 của ấp 6Đ và Biên bản xác minh ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang là phù hợp với nhau, đều xác định chủ hụi là ông Trương Văn X (3 Xuyên) và bà Trần Thị D, sau khi bể hụi ông Trương Văn X và bà Trần Thị D không trả tiền hụi, chị Trần Thị Thu T yêu cầu chính quyền ấp 6Đ giải quyết thì ông Trương Văn X và bà Trần Thị D thỏa thuận trả cho chị Trần Thị Thu T tổng số tiền hụi 33.000.000 đồng, hẹn mỗi tháng trả 1.500.000 đồng cho đến khi hết số nợ trên là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 91 và điểm a khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, chị Trần Thị Thu T yêu cầu ông Trương Văn X và bà Trần Thị D trả số tiền hụi theo được lĩnh là 31.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Xét ý kiến trình bày của bị đơn ông Trương Văn X và bà Trần Thị D không làm chủ hụi, không tổ chức tham gia góp hụi mà chị Võ Thị B làm chủ hụi, tổ chức tham gia góp hụi, lập danh sách những người hụi viên tham gia góp, lập danh sách những người hụi viên tham gia góp, ông Trương Văn X và bà Trần Thị D cùng phụ gom hụi, vì chị Võ Thị B hàng ngày mua bán cua, sau khi chị Võ Thị B tuyên bố bể hụi thì chị Võ Thị B bỏ đi làm thuê, kêu ông Trương Văn X và bà Trần Thị D ở nhà thỏa thuận trả nợ, chị Võ Thị B làm có tiền trả lại nhưng nay ông bà không có khả năng trả, để cho chị Võ Thị B tự trả. Hội đồng xét xử thấy rằng, ý kiến trình bày ông Trương Văn X, bà Trần Thị D và người làm chứng anh Trương Sa R là phù hợp nhau, nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh là chị Võ Thị B làm chủ hụi và chị Võ Thị B cũng không thừa nhận làm chủ, tổ chức góp dây hụi ngày 29/11/2021 âm lịch. Do đó, không có cơ sở chấp nhận ý kiến trình bày của ông Trương Văn X, bà Trần Thị D. Trường hợp sau này ông Trương Văn X và bà Trần Thị D có tài liệu, chứng cứ chứng minh được chị Võ Thị B làm chủ hụi, tổ chức góp hụi ngày 29/11/2021 âm lịch thì ông Trương Văn X và bà Trần Thị D có quyền khởi kiện chị Võ Thị B trả lại khoản tiền mà ông Trương Văn X và bà Trần Thị D thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay chị Võ Thị B và được xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định tại khoản 3 Điều 288 của Bộ luật dân sự.
Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Trần Thị Thu T, buộc ông Trương Văn X và bà Trần Thị D phải có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị Thu T số tiền hụi được lĩnh là 31.500.000 đồng theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự, khoản 3, khoản 4 Điều 18 và khoản 1 Điều 23 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Về án phí, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nhưng bị đơn là người cao tuổi có đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 7, Điều 8, điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 3, khoản 4, khoản 8 Điều 18, khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 25 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc ông Trương Văn X và bà Trần Thị D phải trả cho chị Trần Thị Thu T số tiền hụi còn nợ là 31.500.000 đồng (Ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án một khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Bị đơn ông Trương Văn X và bà Trần Thị D là người cao tuổi có đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trương Văn X và bà Trần Thị D.
Chị Trần Thị Thu T không phải chị án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho chị Trần Thị Thu T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.200.000 đồng theo biên lai thu số 0008876 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/4/2024. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - CC THADS huyện An Biên; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |