vanban.org

Bản án 33/2024/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TX. Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 28/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Trần Kim Đ - Nguyễn Thị cẩm T"
  • Căn cứ chính? Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ R
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/DS-ST
Ngày: 29/3/2024
V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Ông Nguyễn Thành Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 227/2023/TLST- DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Kim Đ , sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp X, xã Y, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Bà Lê Thị Cẩm Tú, sinh năm 1969

Địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.

(Bà Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong thời gian giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Kim Đ trình bày: Do có mâu thuẫn trong công việc từ trước, nên vào ngày 18/02/2023 bà Đ đến Công ty Thuận Phát tại ấp A, xã T, thị xã R tỉnh Bạc Liêu để gặp bà Lê Thị Cẩm T. Tại đây hai bên có lời qua tiếng lại nên dẫn đế xô xát. Hậu quả bà T dùng tay đánh bà Đ gẫy sóng mũi. Kết luận giám Đ tổn thương cơ thể trên người sống số: 65/KTTTCT-TTPY, ngày 10/4/2023 của Trung tâm pháp y, tỉnh Bạc Liêu kết luận: Một vết sẹo ở bên phải sống mũi, tỷ lệ 3%. Bà Đ khởi kiện yêu cầu bà T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 12.500.000 đồng (Trong đó gồm có: Tiền viện phí: 3.500.000 đồng; tiền xe đi lại: 3.000.000 đồng; tiền người nhà đi nuôi bệnh: 1.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần: 5.000.000 đồng)

Tuy nhiên, tại biên bản ghi lời khai ngày 26/01/2024 bà Đ thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà gồm các chi phí: Tiền thuốc, viện phí và tổn thất tin thần theo toa vé và theo quy Đ pháp luật; tiền xe đi lại 3.000.000 đồng.

Bị đơn bà Lê Thị Cẩm T: Hiện tại đang sinh sống và làm việc tại địa phương nhưng các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt hợp lệ cho bà T nhưng bà T từ chối nhận và không có mặt tại các buổi làm việc cũng như xét xử tại Tòa án. Do đó, không ghi nhận được ý kiến trình bày của bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng quy Đ của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác Đ đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho bà T nhưng bà T từ chối nhận và không có mặt tại các buổi làm việc cũng như xét xử tại Tòa án. Do đó, không ghi nhận được ý kiến trình bày của bà T là chưa thực hiện đúng quy Đ tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ . Buộc bà T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bà Đ tổng số tiền 6.854.500 đồng (Trong đó gồm có: Tiền thuốc, viện phí: 1.154.500 đồng; tiền xe đi lại: 3.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là: 2.700.000 đồng). Đối với án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải chịu theo quy Đ pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận Đ :

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện ngày 14/8/2023 của bà Trần Kim Đ có căn cứ xác Đ đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” do bị đơn bà Lê Thị Cẩm T cư trú tại: Ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy Đ tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bà Lê Thị Cẩm T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, nên áp điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Do có mâu thuẫn trong công việc từ trước, nên vào ngày 18/02/2023 bà Đ đến Công ty Thuận Phát tại ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu để gặp bà Lê Thị Cẩm T. Tại đây hai bên gây gỗ nên dẫn đế xô xát. Hậu quả bà T dùng tay đánh bà Đ vào sống mũi. Kết luận giám Đ tổn thương cơ thể trên người sống số: 65/KTTTCT-TTPY, ngày 10/4/2023 của Trung tâm pháp y, tỉnh Bạc Liêu kết luận: Một vết sẹo ở bên phải sống mũi, tỷ lệ 3%. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo số: 71/TB-CSĐT, ngày 14/5/2023 về việc không khởi tố vụ án do tin báo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 20/5/2023 Công an thị xã R ra Quyết Định số: 162/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với bà Lê Thị Cẩm T hình thức xử phạt phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Căn cứ Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bà T có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại gây ra cho bà Đ , nên bà Đ yêu cầu bà T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà là có căn cứ chấp nhận.

Về lỗi dẫn đến thiệt hại xảy ra: Xét thấy xự việc xô xát giữa bà Đ và bà T là có xảy ra trên thực tế, hậu quả của việc xô xát trên là bà T làm bà Đ thương tích tỷ lệ 3% ở vùng sống mũi. Nguyên nhân dẫn đến xô xát là việc mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống nhưng các bên đều thiếu bình tĩnh giải quyết sự việc mà dùng vũ lực làm ảnh hưởng đến sức khỏe nên xét lỗi dẫn đến hậu quả thương tích cho bà Đ là cả hai đều có lỗi bằng nhau.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm trong đó gồm tiền thuốc, viện phí; tiền xe đi lại và tiền tổn thất tinh thần: Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án trong đó có toa vé thuốc điều trị vết thương tại bệnh viện do bà T gây ra cho bà Đ là 1.154.500 đồng; trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Đ không cung cấp thêm toa vé mới do đó có căn cứ chấp nhận tiền thuốc, viện phí cho bà Đ tổng số tiền 1.154.500 đồng. Đối với tiền thuê xe đi lại khám bệnh 3.000.000 đồng; tại biên bản xác minh anh Huỳnh Tuấn Khanh xác Đ : Anh có chạy xe thuê đưa bà Đ đi khám bệnh tổng cộng 3 lần, mỗi lần tiền công là 1.000.000 đồng, tổng là 3.000.000 đồng; Xét thấy, đây là chi phí có xảy ra trên thực tế nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà Đ . Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần của bà Đ : Căn cứ khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự quy Đ : “Mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do các bên tự thỏa thuận; nếu không thảo thuận được thì mức tối đa cho mồi người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy Đ ”, bà Đ và bà T không thỏa thuận được mức bồi thường tổn thất tinh thần nên có căn cứ xác Đ mức bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Đ cụ thể như sau: Bà Đ có tỷ lệ thương tích 3% x 1.800.000 đồng (mức lương cơ sở) /tháng x 50/tháng lương cơ sở = 2.700.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền mà bà T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bà Đ là: 1.154.500 đồng + 3.000.000 đồng + 2.700.000 đồng = 6.854.500 đồng.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ ; ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R về việc giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của bà Đ được chấp nhận, nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà T phải chịu là: 6.854.500 đồng x 5% = 342.725 đồng.

QUYẾT Đ :

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 178; Điều 244; Điều 227 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim Đ đối với bà Lê Thị Cẩm T về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

1.1. Buộc bà Lê Thị Cẩm T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bà Trần Kim Đ tổng số tiền: 6.854.500 đồng.

1.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên đây, hàng tháng bà Lê Thị Cẩm T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy Đ tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Lê Thị Cẩm T phải nộp 342.725 đồng.

3. Bản án, quyết Đ này được thi hành theo quy Đ tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thõa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

- Nơi nhận:

Cỡ chữ