- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Chiến - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn C phạm tội Cố ý gây thương tích;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HSST Ngày: 06/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan
Bà Ngô Thị Như Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05/5/1996 tại Hòa Bình; Trú tại: Tổ A, phường Q, thành phố H, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố Đỗ Văn S- Sinh năm 1958, mẹ Hà Thị X- Sinh năm 1956; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án: 02
- Ngày 11/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản.
- Ngày 29/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù giam về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Tiền sự: Không;
Về nhân thân: Ngày 24/4/2017 bị Công an thành phố Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022. Bị cáo được trích xuất, có mặt.
- Người bị hại: anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1998, vắng mặt.
Trú tại: tổ B, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Tùng L, sinh năm 1998, Vắng mặt.
Trú tại: tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
2. Bà Hà Thị X- Sinh năm 1956, trú tại: Tổ A, phường Quỳnh L, thành phố H, tỉnh Hỏa Bình- Có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23h30’ ngày 03/10/2022, Đỗ Văn C cùng Hà Thị Ngọc A, sinh năm 2000 trú tại xóm Nam Hòa 2, xã Xuất Hóa, Lạc Sơn, Hòa Bình đến quán Nguyễn Trang (của chị Nguyễn Huyền Trang, sinh năm 1989 trú tại tổ 11, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình) tại Quảng T Hòa Bình thuộc phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình. Tại đây, C gặp Nguyễn Đình T, sinh năm 1998 trú tại tổ 01, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình đang ngồi ăn uống với bạn là Nguyễn Tùng L, sinh năm 1998, HKTT: tổ 8, phường Thống Nhất, thành phố Hòa Bình; Trương Thành Long, sinh năm 1999 trú tại xóm Hạnh Phúc, xã Thịnh Minh, TP Hòa Bình; Phan Bá Văn, sinh năm 2004 trú tại Lương Nha, Thanh Sơn, Phú Thọ và Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1995, HKTT: Cẩm Khê, Thanh Sơn, Phú Thọ. Do quen biết từ trước với Nguyễn Tùng L nên C vào bàn của L uống rượu giao lưu. Sau khi uống xong, C ra ngồi chiếu khác ăn uống với Hà Thị Ngọc A. Đến khoảng 00h30’ ngày 04/10/2022, Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1986, HKTT: tổ 8, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình sang chiếu của C giao lưu sau đó A và Hằng đứng dậy, cầm chìa khóa xe máy để đi vệ sinh thì Nguyễn Đình T đi đến chiếu của C nói chuyện và mời rượu giao lưu nhưng C từ chối không uống, T cho rằng C khinh T nên hai bên có lời qua tiếng lại cãi chửi nhau. Khoảng 05 phút sau, A và Hằng quay lại, A vứt chùm chìa khóa xe máy (chùm chìa khóa xe máy có móc 01 con dao) trước mặt C. Lúc này, T dùng tay phải tát 01 phát trúng vùng mặt bên trái của C thì C dùng tay phải tát 01 phát vào vai của T, T tiếp tục dùng tay đấm 01 phát trúng vào vùng mặt của C rồi T đứng dậy. C dùng tay phải cầm chùm chìa khóa xe máy vặn rút lưỡi dao trên chùm chìa khóa và đâm 01 phát trúng vào vùng bụng bên phải của T. Lúc này, T dùng chân đạp trúng vùng ngực của C làm C ngã ngửa ra đất thì L lao vào cùng T dùng chân đá vào vùng người, đầu, chân tay của C. A vào can ngăn ôm C thì bị nhóm của T, L tiếp tục dùng chân đá nhiều phát trúng vào vùng đầu, người A. Sau đó, mọi người vào can ngăn nên T, L dừng lại. L đưa T đến bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình khám và điều trị, còn C về nhà ngủ. Đến sáng ngày 04/10/2022 Đỗ Văn C đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 214/TgT ngày 12/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình kết luận: “Dấu hiệu chính qua giám định: Thủng ruột non đã phẫu thuật khâu lỗ thủng. Vết phẫu thuật vùng bụng, vết dẫn lưu mạn sườn phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Đình T là 29% (Hai chín phần trăm)”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 211/TgT ngày 11/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Đỗ Văn C là 05% (Năm phần trăm)”.
Tại cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 20/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Đỗ Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình Đỗ Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Đình T số tiền 50.000.000đ. Nguyễn Đình T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đỗ Văn C và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn C mức án từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, không đề cập xử lý.
Áp dụng: điều 47 BLHS, điều 106 Bộ luật TTHS trả lại cho bị cáo 01 chùm chìa khóa gồm: 01 móc khóa bằng kim loại có bọc nhựa màu xanh; 01 vật trang trí hình viên đạn màu vàng đồng dài 3cm; 01 chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại đuôi bọc nhựa màu đen dài 6,4cm có dãy số “A00306”; 01 chiếc chìa khóa VIETTIEP đầu vuông dài 5,5cm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra và Điều tra viên Công an thành phố Hòa Bình của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra. các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của bị cáo Đỗ Văn C tại Cơ quan Điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và tang vật thu giữ của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mẫu thuẫn nhỏ, ngày 04/10/2022 Đỗ Văn C đã dùng 01 lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 5cm, có mũi nhọn, 02 lưỡi sắc, bản rộng khoảng 0,5-1cm đâm vào vùng bụng gây thương tích cho anh Nguyễn Đình T dẫn đến tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%. Hành vi nêu trên của Đỗ Văn C đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác, quyền được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã dùng dao là tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” nên đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà nó còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương; Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục thực hhàn hành vi phạm tội. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này thuộc T hợp “tái phạm” đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tích cực khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và bị hại có một phần lỗi, đồng thời khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Về quyết định hình phạt: bị cáo Đỗ Văn C là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Khi áp dụng hình phạt cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Đỗ Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Đình T số tiền 50.000.000đ. Nguyễn Đình T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đỗ Văn C và không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về những người khác trong vụ án: Đối với hành vi của Nguyễn Đình T và Nguyễn Tùng L đã dùng chân tay đA gây thương tích cho Đỗ Văn C gây tổn thương cơ thể là 05%. Quá trình điều tra, Đỗ Văn C không có đề nghị gì. Xét thấy, hậu quả do hành vi của Nguyễn Đình T và Nguyễn Tùng L gây ra không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại điều 134 BLHS. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và L theo quy định nên không đề cập xem xét.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xét thấy các vật chứng thu giữ thuộc vật cá nhân của bị cáo, không phải là công cụ phạm tội nên cần trả lại cho: 01 (một) chùm chìa khóa gồm: 01 móc khóa bằng kim loại có bọc nhựa màu xanh; 01 vật trang trí hình viên đạn màu vàng đồng dài 3cm; 01 chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại đuôi bọc nhựa màu đen dài 6,4cm có dãy số “A00306”; 01 chiếc chìa khóa VIETTIEP đầu vuông dài 5,5cm.
- Về 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 5cm, có mũi nhọn, 02 lưỡi sắc, bản rộng 0,5-1cm, Cơ quan điều tra chưa thu giữ được, đang tiếp tục xác minh, truy tìm vật chứng, khi nào tìm được sẽ xử lý theo quy định.
- Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại dài 23,5cm, chuôi dao bọc nhựa màu đen, 01 lưỡi sắc, không có mũi nhọn, bản rộng 3cm; 01 (một) chiếc kéo cán bọc nhựa màu đỏ, dài 23cm; 01 (một) đôi dép quai hậu dài 28cm, rộng 11cm, trên dép có chưa VENTO; 02 (hai) que tre loại que xiên hình trụ tròn dài 20cm, có màu đầu nhọn. Tất cả các vật chứng trên, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Huyền Trang, sinh năm 1989 trú taị tổ 11, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn C phạm tội Cố ý gây thương tích;
Áp dụng: điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả cho bị cáo Đỗ Văn C: 01 (một) chùm chìa khóa gồm: 01 móc khóa bằng kim loại có bọc nhựa màu nâu; 01 vật trang trí hình viên đạn màu vàng đồng dài 3cm; 01 chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại đuôi bọc nhựa màu đen dài 6,4cm có dãy số “A00306”; 01 chiếc chìa khóa VIETTIEP đầu vuông dài 5,5cm.
Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng 52/BB ngày 04/4/2023 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.
3.Về án phí: bị cáo Đỗ Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - VKSND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Cơ quan điều tra Công an TP. Hòa Bình; - Cơ quan THAHS TP. Hòa Bình; - Chi cục THADS TP. Hòa Bình; - Lưu HS vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lan |