vanban.org

Bản án 33/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Đức D 24 (hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thử thách 48 (bốn tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/8/2023. Giao bị cáo Nguyễn Đức D cho Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Yên Mô giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đức D … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyên Đức D phạm tội CYGTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 33/2023/HSST
Ngày 17/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan

Bà Trần Thị Mão

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST - HS ngày 10/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST - HS ngày 4 tháng 8 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Đức D, sinh năm 1984 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 1, Đông Thôn, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: lớp10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Lưu Thị B; vợ: Phạm Thị Như H và 02 con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 40/2023/LCCT - TA ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm 3, thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Có mặt

- Người làm chứng: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1992. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau: Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 04/4/2023, anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm 3, thôn Đ xã Y, huyện Y điều khiển xe ô tô loại 16 chỗ nhãn hiệu Ford Transit BKS 35B – 011.53 đi từ nhà ở xã Y đến xã Yên Lâm đón khách. Khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày khi anh H đang đi trên đoạn đường ĐT 480 thuộc địa phận thôn Đ, xã Y, huyện Y thì thấy xe ô tô BKS 29B -104.73 do Nguyễn Đức D đang dừng ở ven đường, xe vẫn nổ máy bật đèn; nghi ngờ D dừng xe để đón khách của mình nên anh H điều khiển xe ô tô dừng ngang vị trí xe ô tô của D, hạ kính xe xuống chửi “Mẹ mày sao đón khách ở đây” thì giữa D và H có lời qua tiếng lại rồi cả hai xuống xe tiếp tục chửi nhau. H chạy sang phía D dùng tay phải đấm 01 phát vào cằm trái D, D xô H ngã xuống chậu cây bằng bê tông ở ven đường rồi túm cổ áo, ấn H xuống. H dùng hai tay túm cổ áo D kéo xuống, một lúc sau H cởi được áo thoát ra chạy lên ô tô của H để tìm công cụ đánh D. Lúc này D cũng chạy lên xe ô tô lấy 01đoạn ống kim loại hình trụ tròn bên trong rỗng dài 92cm, đường kính 3,7cm để ở gầm ghế xe ô tô rồi chạy về phía xe ô tô của H. Khi H đang cúi người bò từ phía bên phụ sang bên lái trên xe ô tô của H thì D cầm đoạn ống kim loại chọc vào trán anh H làm anh H bị rách da chảy máu ở vùng đầu cung mày trái kích thước 3cm, rách da chảy máu ở sống mũi kích thước 2cm, gây vỡ xoang trán trái lan vào trần ổ mắt trái. Bị D đánh, anh H lấy từ gầm ghế ra 01ống kim loại dài 34cm, đường kính 3cm định đánh D nhưng bị D giằng lấy. Sau đó D dùng ống kim loại vụt 01 phát vào lưng anh H bị sưng nề tụ máu, anh H bỏ chạy được khoảng 5 – 6m thì bị ngã nằm sấp xuống đường. Thấy vậy, D chạy đến dùng chân đạp 01 phát vào lưng H làm anh H bị đau lăn lộn trên đường bị xây sát da vùng lưng. Thấy anh H bị thương, D không đánh nữa mà vứt ống kim loại của anh H xuống đường rồi lên xe ô tô điều khiển xe đi về hướng xã Yên Mạc. Thấy D rời đi nên anh H nhặt ống kim loại để trên xe rồi điều khiển xe ô tô đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình sơ cứu vết thương và điều trị từ ngày 04/4/2023 đến ngày 13/4/2023 thì ra viện. Bệnh án điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình xác định anh H bị thương rách da chảy máu ở vùng đầu cung mày trái kích thước 3cm; rách da chảy máu ở sống mũi kích thước 2cm; trên lưng có nhiều vết bầm tím; kết quả chụp CLVT: vỡ xoang trán trái lan vào trần ổ mắt trái. Nguyễn Đức D bị thương nhẹ không điều trị ở cơ sở y tế.

Ngày 15/5/2023 cơ quan CSĐT công an huyện Yên Mô ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y giám định tỷ lệ % tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc H. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 067/KLTTCT –TTPY ngày 24/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận:

1. Kết quả khám giám định: Sẹo vết thương giữa hai cung mày; sẹo vết thương chính giữa gốc mũi; đám thay đổi sắc tố da lưng trái.

CT sọ mặt: Vỡ lún bản ngoài xương trán trái (thành trước xoang trán)

2. Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc H tại thời điểm giám định là 15%, cụ thể: (Sẹo vết thương giữa hai cung mày: 3%; sẹo vết thương chính giữa gốc mũi: 3%; đám thay đổi sắc tố da lưng trái: 1%; vỡ lún bản ngoài xương trán trái (thành trước xoang trán): 9%.

3. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương do vật tầy trực tiếp gây nên.

Cáo trạng số 30/CT- VKS ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố Nguyễn Đức D về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D từ 24 (hai bốn) tháng đến 27(hai bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thử thách từ 48 (bốn tám) tháng đến 54 (năm tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo D cho UBND xã Y quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 92cm; 01ống kim loại dài 34cm.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận thương tích của anh Nguyễn Ngọc H là do bị cáo gây ra, do bực tức bị anh H đánh nên bị cáo đã dùng ống tuýp sắt chọc vào trán H làm anh H bị rách da chảy máu ở vùng đầu cung mày trái dẫn đến rách da chảy máu ở sống mũi, vỡ xương xoang trán trái lan vào trần ổ mắt trái. Sau khi sự việc sẩy ra bị cáo ân hận về việc làm của mình đã thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra và đã thoả thuận bồi thường để khắc phục hậu quả do bị cáo đã gây ra cho anh H tổng số tiền là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), đến nay anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác.

Quá trình điều tra và tại phiên toà anh Nguyễn Ngọc H trình bày: Do có mâu thuẫn trong việc đón khách, Nguyễn Đức D đã dùng ống kim loại chọc vào vùng trán khi anh đang ngồi trên xe ô tô và dùng ống kim loại đánh vào người anh dẫn đến anh bị thương chảy máu vùng trán, sưng nề ở vùng lưng bị tổn hại 15% sức khỏe. Sau khi gây thương tích cho anh, bị cáo D đã bồi thường cho anh toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 40.000.000đ. Tại phiên toà hôm nay anh không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình gây ra và rất ân hận với việc làm của mình, hứa sẽ không vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 04/4/2023, do mâu thuẫn trong quá trình dừng xe đón khách tại khu vực đường ĐT 480 thuộc địa phận thôn Đông Đoài, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, Nguyễn Đức D đã có hành vi cầm ống kim loại chọc vào trán anh Nguyễn Ngọc H khi anh H đang ở trên xe ô tô và dùng ống kim loại vụt 01 phát vào lưng và dùng chân đá vào người anh H ngã xuống đường; hậu quả làm anh Nguyễn Ngọc H bị rách da, vỡ xoang trán trái vùng đầu cung mày trái, sưng nề vùng lưng. Tại kết luận giám định pháp y thương tích số 67/KLTTCT – TTPY ngày 24/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kêt luận: anh Nguyễn Ngọc H bị tổn hại 15% sức khỏe. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Đức D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, hành vi của Nguyễn Đức D đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Điều 134. Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏa của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a. Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 đến 06 năm:

đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Cáo trạng số 30/CT– VKS ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức D với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình đã gây ra cho anh H nên bị cáo D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo D là do bị hại anh H có hành vi chửi, dùng tay đấm vào mặt D nên bị cáo D đã có hành vi gây thương tích cho anh H nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra theo quy định tại điểm e khoản 1 – Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét cho bị cáo là nhân dân lao động thuần túy, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt ngoài lần phạm tội này ra bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên thấy cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và bị cáo tại phiên toà, không cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Đức D được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương trong thời gian thử thách nhất định cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Trong vụ án này anh Nguyễn Ngọc H có hành vi dùng tay đấm vào cằm Nguyễn Đức D nhưng không để lại thương tích. Do vậy hành vi của Nguyễn Ngọc H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện Yên Mô đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc H là đúng qui định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với thiệt hại về sức khỏe của anh Nguyễn Ngọc H, trong quá trình điều tra, bị cáo và anh H đã thoả thuận bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Nguyễn Ngọc H với tổng số tiền là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Anh Nguyễn Ngọc H đã nhận đủ số tiền 40.000.000đ và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác. Do vậy, về trách nhiệm dân sự bị cáo và bị hại đã thống nhất giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 92cm, đường kính 3,7cm của Nguyễn Đức D và 01 ống kim loại dài 34cm, đường kính 3cm của Nguyễn Ngọc H. Xét thấy, các vật chứng trên do bị cáo dùng để phạm tội và người bị hại sử dụng để đánh nhau, đây là công cụ phương tiện dùng để phạm tội, các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 – Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án phí hình sự: Do bị cáo bị kết án nên bị cáo phải nộp số tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s, khoản 1Điều 51; Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Đức D 24 (hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thử thách 48 (bốn tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/8/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Đức D cho Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Yên Mô giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đức D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Đức D cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo D phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho bị cáo được hưởng án treo.

2.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 92cm và 01 ống tuýp kim loại dài 34cm.

( Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ