vanban.org

Bản án 33/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh, áp dụng pháp luật và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V (tên gọi khác là Phễu), Nguyễn Bá T1 (tên gọi khác là Cu Ba) phạm tội “Cướp giật tài sản” Xử phạt bị cáo Lê Quốc V (tên gọi khác là Phễu) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc V và đồng phạm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh, áp dụng pháp luật và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 18-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Khách

Ông Phạm Văn Khuyến

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bùi Quang Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lê Quốc V (tên gọi khác: P), sinh năm 1990 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu T2 trú: Thôn 7, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: thôn 6, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Tuấn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị KP, sinh năm 1960; có vợ là Trịnh Thị T (đã ly hôn) và hai người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015;

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01, Quyết định số 21/QĐ-XPHC ngày 01/5/2022 của Công an huyện P xử phạt về hành vi đánh nhau.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2022 đến nay.

2. Nguyễn Bá T1 (tên gọi khác: C), sinh năm 1992 tại Bình Phước; Hộ khẩu T2 trú và chỗ ở: Thôn 7, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1963; chưa có vợ, con; gia đình bị cáo có 05 anh, chị em và bị cáo là con thứ 4 trong gia đình;

Tiền án: 01, Bản án số 56/2014/HSST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự)

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2022 đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Bà Võ Thị Hoàng O, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/11/2022, Nguyễn Bá T1 điều khiển xe mô tô biển số 93P1-390.82 chở Lê Quốc V ra xã N, huyện P để chơi. Khi cả hai đến khu vực quán bán đồ ăn vặt, súp cua và chè của chị Nguyễn Thị T H, sinh năm 1983 tại thôn Tân Hiệp 1, xã N thì V phát hiện xe mô tô biển số: 93P2 - 886.45 của chị Võ Thị Hoàng O, sinh năm 1997; HKTT: Thôn C, xã P, huyện P đang dựng trên vỉa hè, sát quán chè, đầu xe quay vào trong, chìa khóa cắm trên ổ điện nên nói T1 điều khiển xe quay lại lấy trộm, T1 đồng ý. T1 điều khiển xe quay lại rồi dừng gần xe mô tô biển số: 93P2 - 886.45 đứng quan sát. Tại thời điểm này trong quán có chị O, chị H, và chị Đỗ Thị ML, sinh năm 1976, HKTT: Thôn T1, xã N đang đứng gần đó, T1 xuống xe đi vào gặp chị L mua 02 bịch bánh tráng trộn rồi lại đi ra ngoài xe mô tô ngồi chờ. Lúc đó, V bước xuống xe đi lại xe mô tô, biển số: 93P2 - 886.45 của chị O dùng 02 tay quay đầu xe hướng ra ngoài đường rồi ngồi lên xe bật khóa đề nổ máy. Thấy vậy, chị H dùng hai tay nắm lấy đuôi xe mô tô kéo lại để V không chiếm đoạt được, đồng thời hô “cướp, cướp” nhưng V vẫn điều khiển xe bỏ chạy làm kéo lê chị H khoảng 100m, chị H bỏ tay ra và bị thương tích. Sau khi chiếm đoạt được xe, V điều khiển đến để trước cổng trường tiểu học H B thuộc xã H, huyện P rồi đi bộ về nhà. Còn T1 cũng điều khiển xe chạy về nhà.

Cùng ngày 25/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với V. Đến ngày 07/12/2022, T1 đến Công an huyện P đầu thú và giao nộp: 01 quần tây màu đen; 01 đồi dép tổ ong màu vàng, chiếc dép bên phải phía sau có chữ Tam Anh, số 7, chiếc dép bên trái phía sau có chữ Việt Thắng, số 7; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng xám, kẻ đen, bên trong cổ áo có chữ “Slim” và 01 xe mô biển số: 93P1-390.82.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT- Công an huyện P thu giữ:

- 01 USB chứa nội dung thể hiện hành vi cướp giật xe mô tô; 01 USB thể hiện hành vi cướp giật xe mô tô tại thôn T 1, xã N và 01 USB quay lại cảnh lấy lời khai Nguyễn Bá T1.

- 01 áo thun có cổ màu nâu sọc ngang đen trước ngực trái có chữ “Loui svuitton” ; 01áo ngắn tay; 01 quần sọc đen bên hông phải có chữ “Fastion” và 01 đôi dép màu vàng có chữ Tam Anh và số 6 do Lê Quốc V giao nộp.

- 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wuave màu trắng-đen, biển số: 93P2-886.45 và 01 căn cước công dân mang tên Võ Thị Hoàng O do Lê Văn D giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 60/KL-HĐĐGTS, ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Giá trị của 01 xe mô tô mô tô BSKS: 93P2 - 886.45, tại thời điểm ngày 25/11/2022 là 13.650.000 đồng.

Tại bản kết giám định pháp y về thương tích số 498/2022/TgT, ngày 21/12/2022 của Trung tâm pháp y của Sở y tế tỉnh Bình Phước đối với Nguyễn Thị T H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Khối hematome vùng đỉnh phải kích thước (2x2)cm hiện không thấy dấu vết tổn thương.

- Sẹo trầy da trước - ngoài cánh tay phải kích thước (9x5)cm.

- 02 sẹo trầy da sau - ngoài vai phải kích thước (7x9)cm và (6,5x3)cm.

- Sẹo trầy da hông trái (lưng trái) kích thước (5,5x4) cm.

- Sẹo trầy da sau - ngoài mông phải kích thước (8x2,5)cm.

- Gót chân phải: Sẹo trầy da trước - ngoài kích thước (4,5x1,5)cm.

04 sẹo trầy da mặt mu chân phải kích thước mỗi vết (1x1)cm, (1x1)cm, (1x1)cm và (1x1)cm, đóng vảy, đang lành sẹo.

- Sẹo mất da gót chân trái kích thước (6x1)cm.

- Sẹo mặt lòng ngón V chân trái kích thước (1,5x1,5)cm.

-> Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng tác động trượt qua.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 09%.

3. Kết luận khác: không

* Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu trắng-đen, biển số: 93P2-886-45 và 01 căn cước công dân mang tên Võ Thị Hoàng O. Quá trình điều tra chứng minh được đây là tài sản hợp pháp của bị hại Võ Thị Hoàng O nên ngày 02/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện P xử lý vật chứng trả lại cho O.

Đối với xe mô tô, biển số: 93P1-390.82 mà T1 và V sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra chứng minh được, xe này có biển số: 93H1-291.43 là tài sản hợp pháp của Điểu B, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn Bình Hà 1, xã Đa Kia, huyện Bù Gia Mập bị mất trộm vào tháng 11/2022 tại xã Long Hưng, huyện P. T1 khai xe mua lại của một người thanh niên (không rõ lai lịch) tại chợ N với giá 10.000.000 đồng nên ngày 10/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P xử lý vật chứng trả lại cho Điểu Bây. Còn biển số: 93P1-390.82 là biển số xe mô tô của Nguyễn Văn T; Địa chỉ: xã Thanh An, huyện Hớn Quản, bị mất trộm năm 2017 tại huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. T1 khai nhặt được trong lô C su gần nhà mình rồi gắn vào xe mô tô trên, biển số không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với biển số: 93H1-291.43 mà T1 tháo vứt tại lô C su thuộc thôn 6, xã H, Cơ quan CSĐT ra biên bản truy tìm nhưng không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 USB thể hiện hành vi cướp giật xe mô tô; 01 USB thể hiện hành vi cướp giật xe mô tô tại thôn Tân Hiệp 1, xã N và 01 USB quay lại cảnh lấy lời khai Nguyễn Bá T1 đã được đánh số bút lục có tại hồ sơ vụ án nên không đề cập đến.

Đối với 01 quần tây màu đen; 01 đồi dép tổ ong màu vàng, chiếc dép bên phải phía sau có chữ Tam Anh, số 7, chiếc dép bên trái phía sau có chữ Việt Thắng, số 7; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng xám, kẻ đen, bên trong cổ áo có chữ “Slim”; 01 áo thun có cổ màu nâu sọc ngang đen trước ngực trái có chữ “Loui svuitton” áo ngắn tay và 01 quần sọc đen bên hông phải có chữ “Fastion” mà T1 và V mang trên người lúc thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng và T1 và V cũng không yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Võ Thị Hoàng O đã nhận lại mô tô, biển số: 93P2-886.45 và không yêu cầu gì thêm. Bà Nguyễn Thị T H cũng không yêu cầu bồi T2 tiền điều trị thương tích.

Tại bản Cáo trạng số 36/CTr-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Bá T1 về tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Bá T1. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Bá T1 phạm tội Cướp giật tài sản và áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên xử các bị cáo Lê Quốc V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Bá T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo V: Trong thời gian tạm giữ, tạm giam, bị cáo đã nhận ra hành vi của bị cáo là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm về chăm sóc mẹ và các con nhỏ.

- Bị cáo T1: Bị cáo không thực hiện quyền nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Bá T1 thừa nhận khoảng 12 giờ 55 phút ngày 25/11/2022, bị cáo T1 chở bị cáo V đi theo hướng N - H. Trên đường đi, thấy một chiếc xe mô tô hiệu Wave màu trắng có để chìa khóa trên ổ khóa nên V rủ T1 lấy trộm, T1 đồng ý và quay đầu xe lại chỗ chiếc xe. T1 vào quán mua bánh tráng để đánh lạc hướng những người xung quanh còn V đến chỗ chiếc xe ngồi lên xe, nổ máy bỏ chạy.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/11/2022, Nguyễn Bá T1 điều khiển xe mô tô biển số 93P1-390.82 chở theo Lê Quốc V đi theo hướng N - H. Trên đường đi đến gần chợ N, phát hiện có xe mô tô, biển số 93P2-886.45 có cắm chìa khóa trên xe, cả hai nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe nên T1 dừng xe gần lề đường vào mua bánh tráng còn V tiến đến quay xe, nổ máy, bị bà H phát hiện, nắm giữ đuôi xe, V vẫn nổ máy bỏ chạy, tẩu thoát.

Hành vi nhanh chóng tiếp cận xe mô tô biển số 93P2-886.45 một cách công khai, lên xe nổ máy của các bị cáo mặc cho bà H nắm giữ đuôi xe, truy hô, V biết nhưng vẫn phóng xe kéo lê bà H gây nên thương tích 9% cho bà H và tẩu thoát. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự. Khi bà H phát hiện, nắm giữ đuôi xe, bị cáo V phóng xe kéo theo bà H trong tình trạng lạng lách nhằm tẩu thoát và chiếm đoạt bằng được tài sản là hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố các bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự tại là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận T1 được việc dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là hành vi trái pháp nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác - là khách thể quan trọng được Luật hình sự bảo vệ đồng thời gây mất an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra vụ án.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị công cụ phạm tội từ trước nhưng thống nhất ý chí cùng thực hiện việc chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển số 93P2-886.45, đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần phân tích vai trò của từng bị cáo để tuyên xử mức án phù hợp, đảm bảo tính giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Quốc V là người chủ động rủ rê bị cáo T1 chiếm đoạt tài sản đồng thời trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của bị cáo nghiêm trọng hơn bị cáo T1. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có 01 tiền sự về hành vi đánh nhau, có nhân thân xấu vì vậy cần phải tuyên xử bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là lao động chính trong gia đình có 01 mẹ già và hai con nhỏ; tài sản sau khi chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Bá T1 là đồng phạm, thống nhất ý chí, tạo điều kiện, động lực về mặt tinh thần để bị cáo V thực hiện hành vi, bị cáo không trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và có nhân thân xấu nên cần xử phạt bị cáo thật nghiêm minh. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo; thuộc trường hợp người phạm tội ra đầu thú; tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. [4]

Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy đối với những đồ vật thu giữ của các bị cáo không còn giá trị sử dụng và các bị cáo không yêu cầu nhận lại gồm:

- 01 quần tây màu đen; 01 đồi dép tổ ong màu vàng, chiếc dép bên phải phía sau có chữ Tam Anh, số 7, chiếc dép bên trái phía sau có chữ Việt Thắng, số 7; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng xám, kẻ đen, bên trong cổ áo có chữ “Slim”; 01 áo thun có cổ màu nâu sọc ngang đen trước ngực trái có chữ “Loui svuitton” áo ngắn tay và 01 quần sọc đen bên hông phải có chữ “Fastion”.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tại phiên tòa về tội danh, áp dụng pháp luật đối với các bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự, án phí hình sự: Áp dụng khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 8 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 vụ Quốc hội.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh, áp dụng pháp luật và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V (tên gọi khác là Phễu), Nguyễn Bá T1 (tên gọi khác là Cu Ba) phạm tội “Cướp giật tài sản”

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc V (tên gọi khác là Phễu) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2022

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T1 (tên gọi khác là Cu Ba) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2022.

[2] Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 quần tây màu đen; 01 đồi dép tổ ong màu vàng, chiếc dép bên phải phía sau có chữ Tam Anh, số 7, chiếc dép bên trái phía sau có chữ Việt Thắng, số 7; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng xám, kẻ đen, bên trong cổ áo có chữ “Slim”; 01 áo thun có cổ màu nâu sọc ngang đen trước ngực trái có chữ “Loui svuitton” áo ngắn tay và 01 quần sọc đen bên hông phải có chữ “Fastion”.

[3] Về án phí: Các bị cáo Lê Quốc V (tên gọi khác là Phễu), Nguyễn Bá T1 (tên gọi khác là Cu Ba), mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ