- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo L N H, H T D phạm tội “Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 33/2023/HSST Ngày 08 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Hoàng Nghiệp
Bà Nguyễn Thị Lợi
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/HSST ngày 20/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2023/QĐST-HS ngày 26/5/2023 đối với các bị cáo:
1. L N H, sinh năm: 1997; nơi thường trú: 258/5A, Trần Nhật Duật, khóm 6, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên. Chỗ ở hiện nay: 171/12A, khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo phật; Học lực: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Lê Ngọc Tùng, sinh năm 1970; Mẹ: Lê Thị Cần, sinh năm 1979. Anh, em ruột có 03 người, bị can là người lớn nhất.
Năm 2011, bị đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng tại tỉnh An Giang.
Tiền án: Ngày 16/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 22/9/2021 chấp hành xong.
Tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/07/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện An Phú.
Ngày 05/4/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật (bị cáo kháng cáo).
2. H T D, sinh năm: 2002; nơi thường trú: Khóm Hòa Long 1, thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo phật; Học lực: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Huỳnh Văn Giang, sinh năm 1981; Mẹ: Phan Thị Tuyết Nhung, sinh năm 1984. Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là người lớn nhất.
Tiền án, tiền sự: Chưa
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/07/2022 đến ngày 10/10/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Ngày 05/4/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia phiên tòa:
- Các bị cáo:
1. L N H, sinh năm 1997, nơi thường trú: 258/5A, Trần Nhật Duật, khóm 6, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên. Chỗ ở hiện nay: 171/12A, khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
2. H T D, sinh năm 2002, nơi thường trú: Khóm Hòa Long 1, thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
- Bị hại:
1. Hà Hữu Phước, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp Hòa Thạnh, xã Tân Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
2. Nguyễn Thoại Ba, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
3. Võ Thị Diễm Hương, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Hà Văn Hăng, sinh năm 1962; nơi cư trú: Ấp Hòa Thạnh, xã Tân Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
2. Nguyễn Thị Ở, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
3. Nguyễn Thị Đầy, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
4. Phạm Văn Trung, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố 4, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
5. Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp Phú Xương, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
6. Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1954; nơi cư trú: Khu vực Thới Hòa 1, phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
7. Nguyễn Ngọc Thọ, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp Hưng Thạnh, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng:
1. Trương Hoài Thanh, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
2. Dương Thành Được, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
3. Nguyễn Thị Ngọc Huệ, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
4. Nguyễn Thị Lộc, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
5. Đặng Văn Nhơn, sinh năm 1959; nơi cư trú: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
6. Trần Thanh Thảo, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
7. Dương Văn Tính, sinh năm 1964; nơi cư trú: Khóm An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
8. Võ Văn Hoàng, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khóm An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
9. Lê Thị Cần, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
10. Trần Văn Bình, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 40 ngày 27/7/2022, Công an huyện An Phú phối hợp cùng Công an thị trấn An Phú kiểm tra hành chính chỗ ở của H T D và L N H (tại khóm An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú), phát hiện trong phòng ngủ có 01 bọc nylon màu đen bên trong có các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (12 cái nỏ bằng thủy tinh đã qua sử dụng, 09 cái nỏ bằng thủy tinh chưa qua sử dụng, 01 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy) và 01 cái ví da màu đỏ đen bên trong có 01 bọc nylon trong suốt được hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Qua làm việc ban đầu, Duyên khai nhận số tinh thể màu trắng nêu trên là ma túy do Duyên mua để sử dụng. Nên lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Duyên cùng tang vật.
Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng tháng 6/2022, Huy và Duyên đến thuê nhà của anh Võ Văn Hoàng (tại khóm An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú) để chung sống như vợ chồng. Do không có tiền tiêu xài nên Huy và Duyên đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện An Phú và thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Trưa ngày 09/7/2022, Huy điều khiển xe môtô biển số 67L3-4356 chở Duyên đến khu vực ấp Giồng Trà Dên, xã Tân Thạnh, thị xã Tân Châu thì phát hiện xe môtô biển số 67U1-3944 của anh Hà Hữu Phước dựng trên đường nhưng không có người trông coi. Huy đến lấy xe môtô, còn Duyên đứng cảnh giới. Sau đó, cả hai mang xe môtô biển số 67U1-3944 đến dịch vụ cầm đồ Ngọc Đầy (thuộc ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú) thế chấp được 8.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Ngày 12/7/2022, Huy một mình điều khiển xe môtô biển số 67L3-4356 qua khu vực xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú để tìm xe môtô lấy trộm. Đến khu vực đường cộ 7 Thọ, ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, Huy thấy xe môtô biển số 67G1-051.64 của chị Nguyễn Thoại Ba đang dựng trên đường nhưng không ai trông coi, Huy điều khiển xe môtô đến gửi nhà dân gần đó. Huy đi bộ đến lấy xe môtô của chị Nguyễn Thoại Ba rồi điều khiển về nhà trọ và thay đổi biển số thành 67B1-971.78 để tránh bị phát hiện. Sau đó, Huy kêu Duyên điều khiển xe môtô lấy trộm được đến nhà bà Lê Thị Cần (mẹ ruột của Huy; ngụ khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang) để tìm người tiêu thụ, còn Huy thì quay lại lấy xe môtô biển số 67L3-4356. Khi kiểm tra hành chính nhà bà Cần, Công an phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã tạm giữ xe môtô biển số 67G1-051.64 do nghi vấn liên quan đến tội phạm.
Vụ thứ ba: Khoảng 13 giờ ngày 19/7/2022, Huy điều khiển xe môtô biển số 67L3-4356 đến khu vực xã Nhơn Hội, huyện An Phú để tìm xe môtô lấy trộm. Khi đến nhà chị Võ Thị Diễm Hương (thuộc ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú), Huy thấy xe môtô biển số 67G1-050.65 dựng trước nhà nhưng không ai trông coi. Huy dựng xe mô tô biển số 67L3-4356 tại khu vực đất trống cạnh nhà anh Trần Thanh Thảo (cách nhà chị Hương khoảng 30m) rồi đi bộ đến lấy trộm xe môtô biển số 67G1-050.65 điều khiển về nhà trọ. Sáng 20/7/2022, Huy và Duyên điều khiển môtô biển số 67G1-050.65 đến cửa hàng mua bán xe máy Trung Phạm Phát (tổ 4, khu phố 4, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai) bán được 8.000.000 đồng. Số tiền có được, Huy và Duyên thống nhất lấy 1.000.000 đồng mua ma túy để cùng sử dụng. Duyên đến cổng sau Công ty Pou Chen (khu phố An Hòa, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) mua 500.000 đồng ma túy của người đàn ông tên Tào (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi cùng Huy sử dụng hết số ma túy này. Ngày 26/7/2022, tương tự như lần trước Duyên mua 500.000 đồng ma túy của Tào rồi cất giấu vào ví da màu đỏ đen để sau đó cùng sử dụng với Huy. Sáng ngày 27/7/2022, Duyên và Huy về nhà lại nhà trọ tại huyện An Phú thì bị Công an huyện An Phú phát hiện, bắt quả tang.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 291 ngày 09/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xác định: 01 (một) xe mô tô màu xanh, nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave Alpha, biển số 67U1-3944 trị giá 7.500.000 đồng.
Căn cứ các Kết luận định giá tài sản số 89 ngày 16/8/2022, số 95 ngày 19/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Phú, tỉnh An Giang xác định: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future FI, biển số 67G1-050.65, trị giá 13.500.000 đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, biển số 67G1-051.64, trị giá 8.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 29.500.000 đồng.
Căn cứ Kết luận giám định số 135 ngày 01/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2689g
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số 135/KLGT-PC09 (MT) ngày 01 tháng 08 năm 2022) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 0,2067g (không phẩy hai không sáu bảy gam);
- 01 (một) xe mô tô biển số 67L3-4356, số khung VHTDCH 063UM003732, số máy VVNZS152FMH018856, đã qua sử dụng;
- 01 (một) điện thoại di dộng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme C11 2021, số imei 1: 869150053506815, số imei 2: 869150053506807, mặt lưng điện thoại màu xanh, màn hình bị nứt nhiều đường, đã qua sử dụng;
- 01 (một) biển số 67B1-971.78;
- 12 (mười hai) cái nỏ bằng thủy tinh (03 cái đã qua sử dụng, 9 cái chưa qua sử dụng)
- 01 (một) ví da màu đỏ đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
Ngày 04/8/2022, H T D và L N H bị khởi tố điều tra.
Tại Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSAP-HS ngày 18/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố H T D và L N H về tội “Trộm cắp tài sản; tàng trữ trái phép chất ma túy; tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng trình bày phù hợp nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Đối với L N H đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 56; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Huy mức án 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huy mức án 01 năm 6 tháng đến 2 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huy mức án 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù giam về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt đói với bị cáo Huy từ 04 năm 6 tháng đến 5 năm tù.
- Đối với H T D đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 56; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tuyên phạt bị cáo H T D 02 (hai) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Duyên mức án 1 năm 6 tháng đến 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Duyên mức án 01 năm 3 tháng đến 01 năm 09 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Duyên mức án 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù giam về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Duyên từ 3 măm 9 tháng đến 5 năm tù.
Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 26/2023/HSST ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm đã được thu hồi trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Riêng chủ dịch vụ cầm đồ và cửa hàng xe chị Nguyễn Thị Đầy yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng; anh Phạm Văn Trung yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng là số tiền các bị cáo chiếm đoạt là có căn cứ nên chấp nhận. Đề nghị buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Đầy, anh Trung.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số 135/KLGT-PC09 (MT) ngày 01 tháng 08 năm 2022) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 0,2067g (không phẩy hai không sáu bảy gam), đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) biển số 67B1-971.78; 12 (mười hai) cái nỏ bằng thủy tinh (03 cái đã qua sử dụng, 9 cái chưa qua sử dụng); 01 (một) ví da màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
- Tịch thu bán hóa giá sung quỹ: 01 (một) xe mô tô biển số 67L3-4356, số khung VHTDCH 063UM003732, số máy VVNZS152FMH018856, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di dộng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme C11 2021, số imei 1: 869150053506815, số imei 2: 869150053506807, mặt lưng điện thoại màu xanh, màn hình bị nứt nhiều đường, đã qua sử dụng.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Xét về tính chất vụ án: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được chất Methamphetamine là chất ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vẫn cố ý tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Các bị cáo đã biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, tạo sự lệ thuộc về thể chất lẫn tâm lý đối với người sử dụng. Ma tuý khi thâm nhập vào cơ thể sẽ gây kích thích mạnh, làm cho người nghiện bị giảm sút cả thể xác lẫn tinh thần và khi lên cơn nghiện dễ có hành vi phạm tội. Với ma tuý, đã làm nhiều gia đình đổ nát, đưa người nghiện vào con đường sa đọa. Các bị cáo có khả năng lao động để có thu nhập chân chính lo cho cuộc sống gia đình nhưng các bị cáo xem thường pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là nguy hiểm cho xã hội, phá hoại việc tập trung quản lý, cải tạo của Nhà nước đối với công tác phòng, chống ma túy.
Ngoài ra để có tiền phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo tiếp tục xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Các bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lẽ ra các bị cáo phải tìm việc làm hợp pháp để tạo ra của cải lo cho bản thân và gia đình nhưng do bản chất lười lao động, muốn có tiền sử dụng ma túy mà các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm, tương xứng với từng hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, đây được xem là đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau bàn bạc, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Từ những lời khai và chứng cứ nêu trên đủ cơ sở xác định: Các bị cáo L N H và H T D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: khối lượng 0,2689g trong người để nhằm mục đích sử dụng, ngoài ra, hành vi tang trữ 12 (mười hai) cái nỏ bằng thủy tinh (03 cái đã qua sử dụng, 9 cái chưa qua sử dụng); 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, các dụng cụ trên phục vụ cho mục đích sử dụng ma túy. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “ Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình.
Ngoài ra, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng chất ma túy L N H và H T D có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của các bị hại để trộm cắp 03 xe gắn máy với tổng trị giá tài sản theo định giá là 29.500.000đ. Hành vị của L N H và H T D đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2017.
Từ những phân tích trên cho thấy Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về nhân thân và lượng hình:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết theo điểm s khoản 1; các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bên cạnh đó, bị cáo Duyên vừa mới sinh con nhỏ. Nên xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Duyên.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; riêng bị cáo Huy đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội mới nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo L N H là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm tài sản nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo Duyên. Ngày 16/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 22/9/2021 chấp hành xong, nên xem là tái phạm.
Đối với bị cáo H T D mặc dù không trực tiếp lấy trộm xe nhưng bị cáo là người cảnh giác khi Huy trộm, tiếp sức trong việc tiêu thụ tài sản sau khi lấy trộm được; cùng bị cáo Huy tàng trữ trái phép chất ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng, tuy nhiên trong thời gian phạm tội bị cáo đang mang thai, hiện đang nuôi con nhỏ nên hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Ngoài ra, ngày 05/4/2023, bị cáo Duyên bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành hình phạt nên trong lần phạm tội này cần tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm đã được thu hồi trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Riêng chủ dịch vụ cầm đồ và cửa hàng xe chị Nguyễn Thị Đầy yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng; anh Phạm Văn Trung yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng là số tiền các bị cáo chiếm đoạt là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Đầy, anh Trung.
Về xử lý vật chứng: chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát
Lẽ ra, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét các bị cáo hiện đang có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với bà Lê Thị Cần là mẹ ruột bị cáo Huy, do bà Cần không biết nguồn gốc xe do Huy và Duyên lấy trộm nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà. Các ông bà Phạm Văn Trung, Phạm Văn Minh và Nguyễn Thị Đầy khi mua và cầm xe cũng không biết những tài sản này có nguồn gốc từ trộm mà có nên cũng không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với người bán ma túy cho bị cáo Duyên tên Tào, địa chỉ ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Tào, nên kiến nghị tiếp tục xác minh làm rõ.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo L N H, H T D phạm tội “Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 53, Điều 55, Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo L N H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo L N H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo L N H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”;
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/7/2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 53, Điều 55, Điều 17; Điều 56, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo H T D 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo H T D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo H T D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”;
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù.
Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 26/2023/HSST ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo H T D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án (khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/7/2022 – 10/10/2022).
Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số 135/KLGT-PC09 (MT) ngày 01 tháng 08 năm 2022) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 0,2067g (không phẩy hai không sáu bảy gam), đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) biển số 67B1-971.78; 12 (mười hai) cái nỏ bằng thủy tinh (03 cái đã qua sử dụng, 9 cái chưa qua sử dụng); 01 (một) ví da màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
Tịch thu bán hóa giá sung công quỹ:
01 (một) xe mô tô biển số 67L3-4356, số khung VHTDCH 063UM003732, số máy VVNZS152FMH018856, đã qua sử dụng.
01 (một) điện thoại di dộng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme C11 2021, số imei 1: 869150053506815, số imei 2: 869150053506807, mặt lưng điện thoại màu xanh, màn hình bị nứt nhiều đường, đã qua sử dụng.
(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).
Căn cứ các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo L N H và H T D có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị Đầy số tiền 8.000.000đ.
Buộc L N H và H T D có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Phạm Văn Trung số tiền 8.000.000đ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Về án phí:
Bị cáo L N H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 400.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo H T D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/6/2023), các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh An Giang (01); - VKSND huyện An Phú (02); - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (01); - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01); - Nhà Tạm giữ (01); - Thi hành án DS huyện (01); - Bộ phận THAHS Tòa án (01); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01); - Người bị hại, liên quan (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án (01); - Lưu văn phòng (01). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phong Phi |