vanban.org

Bản án 33/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 15/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao Hoàng Thanh T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và gia đình giám sát, giáo dục T trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về án phí: bị cáo Hoàng Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thành T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội giao cho người khô…"
  • Tòa quyết gì? Giao Hoàng Thanh T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và gia đình giám sát, giáo dục T trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 264 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HSPT
Ngày: 15/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Vinh

Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Bảo

Ông Hà Văn Nâu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Thân Thị Hải Minh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc giang tham gia phiên toà: ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/3/20223 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLPT-HS ngày 10/01/2023 đối với bị cáo Hoàng Thanh T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đối với bản án hình sự sơ thẩm số 212/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Hoàng Thanh T, sinh năm 1999. Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn C, con bà: Nông Thị N, Vợ, con chưa có; Gia đình có 02 chị em. Bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa;

Trong vụ án còn có một bị cáo khác, đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thanh T, sinh năm 1999, trú tại B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và anh Hoàng Văn H sinh năm 1999, trú tại thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn là bạn, ở trọ cùng nhau tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang để đi làm công nhân tại Khu công nghiệp V, huyện V.

Khoảng 20 giờ ngày 21/02/2022, T giao xe mô tô nhãn hiệu Winerx, số máy KC34E-1238223, số khung RLHKC3701MY109520 (không đeo kiển số) cho anh H điều khiển chở T đến thôn T, xã Q, huyện V uống rượu cùng nhau. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 21/02/2022, sau khi uống rượu xong, T tiếp tục giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Winerx của mình cho anh H điều khiển chở T ngồi sau theo đường gom dân sinh cạnh đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang, hướng Bắc Ninh đi Bắc Giang để về phòng trọ ngủ. Khoảng 22 giờ 59 phút cùng ngày, anh H điều khiển xe mô tô chở theo T đi vào khu vực ngã tư đường giao nhau giữa đường đi theo hướng của anh H với đường ra từ trên cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi vào khu Công nghiệp Q thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, Ma Văn M, sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe ô tô tải, biển số 98H-014.84 đi với tốc độ 45km/giờ trên đường rẽ lối ra khỏi đường cao tốc đi vào Khu công nghiệp Q đi tới nhưng M không giảm tốc độ, không nhường đường cho phương tiện đi trên đường gom dân sinh (đường ưu tiên); đồng thời anh H điều khiển xe mô tô cũng không giảm tốc độ đến mức an toàn nên phần đầu xe mô tô và phần bánh trước bên phải xe ô tô va chạm vào nhau. Sau khi va chạm giao thông, M tiếp tục điều khiển xe ô tô đi tiến về phía trước 11m thì dừng lại, xe mô tô bị đổ, T, anh H ngã xuống đường bị thương. Do thương tích nặng, anh H chết tại chỗ, T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, Bệnh viện trung ương Quân đội 108- Bộ quốc phòng và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đến ngày 03/03/2022 thì ra viện với thương tích đa chấn thương, chấn thương nội sọ.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi anh Hoàng Văn H theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đường gom dân sinh thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa thẳng phẳng rộng 10,50. Theo chiều từ thành phố B đi thành phố B, bên trái là lối ra của đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang, đầu đoạn giao nhau với đường dân sinh rộng 30,0m. Bên phải lối ra của đường cao tốc Hà Nội – Bắc Giang có cắm biển báo nguy hiểm 208 (giao nhau với đường ưu tiên); bên phải đường dân sinh có đường một chiều đi vào khu công nghiệp Q, đầu đường rộng 62,0m, trên đầu đường có cắm biển báo cấm đi ngược chiều, mỗi bên đường một chiều rộng 7,4m. Giải phân cách ở giữa rộng 12,9m. Tại hai đầu đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông trên đường gom dân sinh có cắm các biển báo nguy hiểm 205a, 205b (giao nhau với đường cùng cấp); biển báo nguy hiểm 243 (đi chậm); biển báo cấm 123a, 123b; biển báo hiệu lệnh 301f và 301h.

Phải trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ thành phố B đi thành phố B, lấy mép đường bên phải làm chuẩn và cột điện 25/48E718 làm mốc. Trên mặt đường để lại:

Vết dầu (ký hiệu số 1), kích thước (9,2x4,5)m. Tâm đầu vết dầu cách mép đường bên phải là 0,51m và cách chân cột biển báo nguy hiểm 208 bên phải lối ra của đường cao tốc là 41,1m. Tâm cuối vết dầu ký hiệu số 1 cách mép đường bên phải 11,4m và cách đầu vết máu ký hiệu số 6 là 3,04m. Khoảng cách từ tâm đầu vết dầu ký hiệu số 1 đến đầu đường rẽ vào khu công nghiệp Q theo hướng từ thành phố B đi thành phố B là 16,40m.

Vết trượt lốp (ký hiệu số 2), kích thước (11,4x0,54)m. Tâm đầu vết trượt lốp cách mép đường bên phải 6,66m và cách tâm vết dầu ký hiệu số 1 là 6,50m. Tâm cuối vết trượt lốp số nằm dưới vị trí mặt lăn bánh lốp đôi cuối cùng phía sau bên phải của xe ô tô biển số 98H-014.84.

Vết trượt xước (ký hiệu số 3), kích thước (13,4x0,01)m. Tâm đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải 7,6m và cách đầu vết dầu ký hiệu số 4 là 0,52m. Tâm cuối vết trượt xước nằm dưới vị trí để chân trước bên phải của xe mô tô có số máy KC34E-1238223, cách mép đường bên phải 20,58m.

Vết dầu (ký hiệu số 4), kích thước (13,3x0,5)m. Tâm đầu vết dầu cách mép đường bên phải 7,67m và cách tâm đầu vết trượt lốp ký hiệu số 2 là 1,38m. Tâm cuối vết dầu số ký hiệu số 4 nằm dưới vị trí máy của xe mô tô có số máy KC34E-1238223.

Vết lốp bám dính máu (ký hiệu số 5), kích thước (12,0x0,25)m. Tâm đầu vết lốp bám dính máu cách mép đường bên phải 13,5m và cách tâm đầu vết trượt lốp số ký hiệu số 2 là 6,7m. Tâm cuối vết lốp bám dính máu nằm dưới thân người của tử thi Hoàng Văn H, cách trục bánh sau thứ hai bên phải là 1,0m.

Vết máu (ký hiệu số 6), kích thước (6,2x0,4)m. Tâm đầu vết máu cách mép đường bên phải 14,1m và cách tâm đầu vết lốp bám dính máu ký hiệu số 5 là 1,42m. Tâm cuối vết máu cách mép đường bên phải 19,85m.

Xe ô tô, biển số 98H-014.84 (ký hiệu số 7) đang đỗ trên đường vào Khu công nghiệp Q. Đầu xe hướng Khu công nghiệp Q; đuôi xe hướng cao tốc Hà Nội- Bắc Giang. Trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 25,9m; trục bánh sau cuối cùng bên phải cách mép đường bên phải 17,7m và cách tâm đầu vết lốp bám dính máu ký hiệu số 5 là 4,6m.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Winerx, màu sơn đen, số máy KC34E-1238223 (ký hiệu số 8) đang đổ nghiêng bên phải trên đường một chiều vào Khu công nghiệp Q, đầu xe hướng thành phố B; đuôi xe hướng thành phố B1. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 20,5m và cách trục bánh sau cuối cùng bên phải của xe ô tô biển số 98H-014.84 là 3,18m. Trục bánh sau cách mép đường bên phải 20,64m.

Tử thi Hoàng Văn H (ký hiệu số 9) đang nằm ở tư thế úp bụng xuống đất, ngửa lưng lên trời, đầu hướng thành phố B1, hai chân hướng thành phố B. Đỉnh đầu cách mép đường bên phải 24,6m và cách trục bánh trước của xe mô tô có số máy KC34E-1238223 là 4,20m. Đỉnh đầu tử thi cách trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 98H-014.84 là 1,34m. Gót bàn chân phải cách mép đường bên phải 25,1m; gót bàn chân trái cách mép đường bên phải 25,5m.

Bãi mảnh nhựa vỡ (ký hiệu số 10), kích thước (17x5)m, tâm cách mép đường bên phải 11m và cách tâm cuối vết dầu số (1) là 2,51m.

Bãi máu (ký hiệu số 11), kích thước (3,1x0,45)m, tâm đầu nằm dưới đầu của tử thi Hoàng Văn Hiếu; tâm cuối bãi máu cách mép đường bên phải 24,9m.

Khoảng cách 17,05m tính từ tâm đầu vết dầu ký hiệu số 1 đến chân cột điện số 25/482.E7.18 bên phải đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Kết thúc khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winerx màu sơn đen, số máy KC34E-1238223; xe ô tô biển kiểm soát 98H-014.84; thu mẫu mô tế bào tại mặt lăn bánh lốp thứ hai bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98H-014.84 để phục vụ giám định.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô, nhãn hiệu Honda, Winnerx (màu sơn đen, không lắp biển số, số máy KC34E-1238223): Đầu tay phanh bên trái để lại vết mài sát, mòn sơn, mòn kim loại, kích thước (0,02x0,02)m, tâm cách đất 0,94m. Đầu tay lái bên trái để lại vết mài sát mòn sơn, kích thước (0,02x0,01)m, tâm cách đất 0,97m. Mặt trên tay lái bên trái để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (0,05x0,03)m, tâm cách đất 0,98m. Ốp nhựa đầu xe bị bật rời khỏi xe. Đèn pha phía trước bị tỳ nén nứt vỡ bật rời khỏi xe. Đèn xi nhan phía trước hai bên bị bật rời khỏi xe. Góc bên phải ốp nhựa đầu xe để lại vết mài sát mòn nhựa, bám dính tạp chất màu trắng, kích thước (0,17x0,07)m, tâm cách đất 1,06m. Đầu tay phanh bên phải bị mài sát mòn kim loại, kích thước (0,02 x 0,01)m, tâm cách đất 0,99m, có bám dính đất. Đầu tay lái bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,03x0,02)m, tâm cách đất 1,03m, có bám dính đất. Càng xe phía trước bị tỳ nén cong vênh hướng từ trước về sau, từ trái qua phải. Ốp nhựa phía trên đèn pha trước bị tỳ nén nứt vỡ, mài sát mòn nhựa bám dính tạp chất màu trắng, màu nâu vàng, kích thước (0,20x0,08)m, tâm cách đất 0,81m. Giảm sóc trước bên trái bị tỳ nén đứt gãy kim loại, mặt ngoài đầu phía dưới để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,02x0,02)m, tâm cách đất 0,21m. Vai xe bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,02x0,01)m, tâm cách đất 0,60m. Chắn bùn phía trước bị tỳ nén vỡ khuyết, mặt bên trái để lại vết mài sát mòn nhựa, kích thước (0,08x0,03)m, tâm cách đất 0,47m. Mặt ngoài giảm sóc trước bên trái để lại vết mài sát mòn sơn, bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,03x0,02)m, tâm cách đất 0,49m. Cánh yếm hai bên bị bật rời khỏi xe. Vành bánh trước bị tỳ nén cong vênh, đứt gãy kim loại, bám dính dầu, kích thước (0,34x0,16)m, tâm cách chân van 0,35m. Má lốp bên trái bánh lốp trước để lại vết tỳ nén bẹp lõm, mài sát cao su, kích thước (0,20x0,05)m, tâm cách chân van 0,38m. Ốp nhựa sườn xe bên trái tỳ nén nứt vỡ bật rời khỏi xe. Ốp nhựa khung xe phía trên bị tỳ nén nứt vỡ. Giàn tản nhiệt phía trước bị tỳ nén bẹp méo kim loại. Toàn bộ bánh lốp phía trước và phần đầu xe có bám dính dầu. Giảm sóc trước bên phải bị tỳ nén cong vênh. Để chân trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,03x0,01)m. Ốp nhựa sườn xe bên phải tỳ nén, rạn nứt, mài sát mòn nhựa. Vành bánh sau bị tỳ nén đứt gãy toàn bộ nan hoa. Mặt ngoài ốp bảo vệ bô xe bên phải bị mài sát mòn nhựa, kích thước (0,28x0,03)m. Đầu bên trái trục bánh trước để lại vết mài sát mòn kim loại, bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,01x0,01)m, tâm cách đất 0,24m.

Kết quả khám nghiệm xe ô tô tải, nhãn hiệu JAC, biển số 98H-014.84 (màu sơn Đỏ): Dè chắn bùn bánh trước bên phải bị tỳ nén nứt vỡ nhựa, mặt ngoài để lại vết mài sát sạch bụi đất bám dính tạp chất màu hồng, tổ chức mô cơ thể, kích thước (0,50x0,16)m, tâm cách đất 1,40m. Má lốp ngoài bánh lốp trước bên phải để lại vết mài sát mòn cao su, bám dính dầu, kích thước (1,90x0,22)m. Tâm cách chân van 0,58m. Đầu bên phải trục bánh trước để lại vết tỳ nén bẹp lõm kim loại, mặt ngoài mài sát bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,10x0,05)m, tâm cách chân van 0,29m. Mặt ngoài hệ thống ốc xe bên phải bánh trước để lại vết mài sát mòn kim loại, bám dính tạp chất màu trắng, màu đen, màu đỏ, đường kính 0,35m. Mặt ngoài la răng bánh trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, bám dính tạp chất màu đỏ, màu đen, màu trắng, kích thước (0,60x0,07)m, tâm cách chân van 0,53m. Mặt ngoài má lốp ngoài bánh lốp thứ hai bên phải để lại 02 vết mài sát mòn cao su. Vết thứ nhất, kích thước (0,30x0,12)m, tâm cách chân van 0,72m. Vết thứ hai, kích thước (0,29x0,04)m, tâm cách chân van 0,30m. Kết thúc khám nghiệm thu giữ: Mẫu dầu tại vành bánh trước xe mô tô; mẫu dầu tại má lốp ngoài bánh lốp trước bên phải xe ô tô; hình ảnh video từ camera hành trình của ô tô ghi lại quá trình xe ô tô xảy ra tai nạn.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Hoàng Văn H thể hiện: Vùng trán-thái dương trái có vết chợt rách da, kích thước (11x4)cm. Giữa trán có vết thương rách da, kích thước (1,5x1)m. Trán phải có vết chợt da, kích thước (2x1)cm; Mặt: Hai mắt nhắm tự nhiên, đồng tử giãn. Mũi, miệng, hai tai khô. Má trái có vết chợt da, kích thước (5x4)cm. Môi trên bên trái có vết chợt rách da, kích thước (2,5x2)cm. Vành tai trái có vết chợt da, kích thước (3x2)cm; Vùng ngực, bụng, lưng, mông: Vai phải có vết chợt da, kích thước (5x3)cm. Trước ngực bụng có vết chợt da, kích thước (18x9)cm. Gãy xương sườn 7,8,9,10 cung trước bên phải. Chọc hút khoang màng phổi bên phải ra nhiều máu không đông màu đỏ. Vùng thắt lưng mông trái có đám chợt sước da trên diện (14x10)cm. Vỡ nát xương chậu bên phải. Chân phải: Mặt trước trong 1/3 trên đùi phải có vết chợt rách, mất lớp da, kích thước (30x18)cm. Mặt ngoài 1/3 giữa đùi phải có vết chợt da, kích thước (10x1,5)cm. Mặt trước 1/3 giữa đùi phải có vết chợt da, kích thước (2x2)cm. Mặt trước ngoài 1/3 dưới đùi phải có vết chợt da, kích thước (9x3)cm. Gối phải có đám chợt da, bầm tím trên diện (8x6)cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có vết thương rách da sâu đến xương, kích thước (2x1)cm. Gãy 1/3 trên hai xương cẳng chân phải. Mắt cá trong chân phải có vết chợt da, kích thước (2x2)cm; Chân trái: Mặt trước trong đùi trái có vết chợt rách, mất lớp da, kích thước (30x20)cm. Gối trái có vết chợt da, kích thước (9x7)cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái có vết chợt da, kích thước (17x10)cm. Khoeo chân trái và mặt sau cẳng chân trái có vết hằn tím dạng vân lốp trên diện (20x12)cm. Bộ phận sinh dục ngoài: Dương vật, bìu và bẹn trái có vết thương rách lóc da, kích thước (14x14)cm. Mất tinh hoàn phải. Sọ não: Mở rộng vết thương vùng trái- thái dương trái thấy tụ máu tổ chức dưới da và cơ vùng thái dương trái, kích thước (12x8)cm. Vỡ bản ngoài xương sọ vùng trán, kích thước (1,5x1)cm. Kết thúc khám nghiệm thu mẫu máu của anh H để giám định.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 4344/22/GĐPY ngày 22 tháng 02 năm 2022 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận nguyên nhân chết của anh Hoàng Văn H: Chết do Đa chấn thương do tai nạn giao thông. Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên. Thời gian chết trước thời điểm giám định trên 06 giờ.

Ngày 22/02/2022, Công an huyện V đã tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở và kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Ma Văn M, kết quả không có nồng độ cồn và ma túy.

Tại phiếu khám chữa bệnh vào viện ngày 22/02/2022, thể hiện trong máu của Hoàng Thanh T có định lượng Ethanol là 8,1mg/dl.

Ngày 23/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V trưng cầu Viện pháp y Quân đội- Bộ quốc phòng giám định ma túy, nồng độ cồn trong mẫu máu thu giữ của anh H khi khám nghiệm tử thi.

Tại Bản kết luận pháp y về hóa pháp số 201/PY-XNSH ngày 02/3/2022 của Viện pháp y Quân đội kết luận: Mẫu máu của Hoàng Văn H gửi giám định có Ethanol, nồng độ 57,4mg/100ml; không phát hiện thấy các chất ma túy.

Ngày 08/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V ra Quyết định số 103 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định cơ chế hình thành dấu vết, vị trí va chạm của các phương tiện, tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 575/KL - KTHS ngày 14 tháng 4 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“1. Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, dính chất màu trắng- đen (dạng sơn) ở trục bánh, la zăng và đầu ốc trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 98H-014.84 phù hợp với dấu vết gãy, lõm, trượt xước mất kim loại ở đầu trục và giảm sóc trước bên trái của xe mô tô không biển số (có số máy KC34E-1238223).

Dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất dính chất màu đen ở má lốp bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 98H-014.84 phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, chùn cong kim loại ở bên trái má lốp và vành bánh trước của xe mô tô không biển số (có số máy KC34E-1238223).

2. Dấu vết nứt vỡ nhựa, dính chất màu hồng (dạng tổ chức mô cơ thể) ở chắn bùn bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 98H-014.84 được hình thành do va chạm với bề mặt vật tày (như cơ thể người tạo nên).

3. Dấu vết dầu bắn trên mặt đường ký hiệu số 1 được hình thành trong quá trình va chạm, giám sóc trước bên trái của xe mô tô không biển số (có số máy KC34E-1238223) vỡ, dầu ở bên trong bắn, rơi trên mặt đường tạo nên.

Dấu vết mài trượt mặt đường bám dính máu ký hiệu số 5 phù hợp với quá trình va chạm, xe ô tô biển số 98H-014.84 chuyển động chèn đè và đẩy trượt cơ thể người trên mặt đường tạo nên (ảnh 34, 35,36, 54 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).

Dấu vết trượt xước trên mặt đường ký hiệu số 3 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô không biển số (có số máy KC34E-1238223) đổ nghiêng phải rê trượt trên mặt đường tạo nên.

4. Vị trí va chạm của xe ô tô 98H-014.84 và xe mô tô không biển số (có số máy KC34E-1238223) trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết dầu bắn ký hiệu số 1 (ảnh 19, 20 bản ảnh khám nghiệm hiện trường), thuộc đoạn giao nhau giữa đường dân sinh với đường vào Khu công nghiệp Q.

5. Chiều hướng va chạm: Xe ô tô biển số 98H-014.84 chuyển động thẳng (hướng vào Khu công nghiệp Q) va chạm với xe mô tô không biển số (có số máy KC34E-1238223) chuyển động từ phải sang trái theo hướng chuyển động của xe ô tô biển số 98H-014.84.

6. Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.

Ngày 15/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên trưng cầu Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định % thương tích, cơ chế, chiều hướng, vật gây thương tích đối với Hoàng Thanh T.

Tại Bản kết luận giám định số 269/QĐ-CQĐT ngày 15/6/ 2022 của Trung tâm pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận thương tích của Hoàng Thanh T: Thương tích vết sẹo trán phải: 6%; Thương tích vết sẹo cung mày phải: 3%; Thương tích vết sẹo thái dương trái: 1%; + Thương tích vết thâm da má phải + CT-Scanner: Gãy cung tiếp gò má phải đã can: 9%; Thương tích chạm thương vùng ngực bụng không còn dấu vết: 0%; Thương tích chạm thương hai tay không còn dấu vết: 0%; Thương tích vết sẹo đùi phải kích thước (16x1,3)cm: 3%; Thương tích vết sẹo đùi phải, kích thước (3x0,9)cm: 2%; Thương tích vết sẹo gối trái: 2%; Thương tích gãy gai ngang bên trái C7 + X-quang: Hình ảnh gãy gai ngang bên trái của C7: 3%; Thương tích ổ đụng dập nhu mô não kích thước nhỏ vùng chẩm phải: Ít máu khoang dưới nhện thùy thái dương phải. Đường vỡ xương thái dương phải; CT-Scanner: Hiện không thấy bất thường nội sọ. Vỡ xương thái dương phải + Điện não đồ: Hiện tại không thấy sóng điện não bệnh lý: 21%; Tổng tỷ lệ thương tích của Nguyễn Thanh T 41%. Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.

Ngày 15/7/2022 và 19/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá xác định thiệt hại cảu xe mô tô Honda Winnerx, số máy KC34E-1238223 và xe ô tô tải biển số 98H-014.84 trong vụ tai nạn.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 98/KL- HĐĐGTS ngày 20/7/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: Phần hư hỏng phải thay thế, sửa chữa trên chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winnerx, số máy: KC34E-1238223 có tổng giá trị là 16.710.000 đồng

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 140/KL- HĐĐGTS ngày 22/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: Phần hư hỏng phải thay thế, sửa chữa trên chiếc xe ô tô biển số 98H-014.84 có tổng giá trị là 3.500.000 đồng.

Ngày 21/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã thu giữ được tại Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang 01 báo cáo chi tiết hành trình xe ô tô tải biển số 98H-014.84 vào ngày 21/02/2022, thể hiện: Ngay trước và trong thời điểm va chạm xe ô tô tải biển số 98H-014.84 đi với tốc độ 45km/giờ.

Quá trình điều tra xác định xe ô tô tải, nhãn hiệu JAC, biển số 98H-014.84 là tài sản của gia đình chị Hoàng Thị V, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện V; chị V thuê Ma Văn M làm lái xe vận chuyển hàng, bản thân M có giấy phép lái xe ô tô hạng C. Xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winnerx, số máy: KC34E-1238223 (tra cứu xe đăng ký biển số 12U1-187.20) là tài sản của Nguyễn Thanh T. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô tải biển số 98H-014.84 cho gia đình chị V, xe mô tô được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình anh Hoàng Văn H yêu cầu Ma Văn M bồi thường tổng số tiền 255.350.000 đồng (trong đó 150.000.000 đồng tổn thất tinh thần, còn lại là tiền mai táng phí). Hoàng Thanh T yêu cầu anh Ma Văn M bồi thường số tiền 34.690.000 đồng (gồm: tiền mất thu nhập khi điều trị thương tích (60 ngày) 15.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 2 tháng là 2.980.000 đồng; tiền sửa chữa xe mô tô 16.710.000 đồng). Ông Hoàng Văn C và bà Nông Thị N là bố mẹ đẻ thay nhau chăm sóc Hoàng Thanh T khi điều trị thương tích, yêu cầu Ma Văn M bồi thường tổng số tiền 28.676.498 đồng (gồm tiền mất thu nhập tổng 10 ngày không làm việc của hai người khi chăm sóc T nằm viện 2.500.000 đồng; chi phí điều trị thương tích cho T 11.176.498 đồng, chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho T 10.000.000 đồng, tiền thuê xe cho T đi viện 5.000.000 đồng). Hiện Ma Văn M, Hoàng Thanh T chưa bồi thường khoản tiền nào cho người bị thiệt hại; chị Hoàng Thị V đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình anh Hoàng Văn H số tiền 10.000.000 đồng, cho Hoàng Thanh T số tiền 5.000.000 đồng và tự nộp 60.000.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện V để hỗ trợ, bồi thường cho người bị thiệt hại.

Tại Cơ quan điều tra, Ma Văn M, Hoàng Thanh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Ngoài ra tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo M khai đã cùng với gia đình đưa cho anh H 40.000.000 đồng để anh H nộp tại cơ quan thi hành án dân sự V 60.000.000 đồng mục đích để bồi thường cho bị hai và M đồng ý bồi thường cho bị hại gồm tiền thuê xe 20.000.000 đồng tiền chi phí mai táng, tiền bù đăp tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại là 80.000.000 đồng và đồng ý bồi thường cho T chi phí viên phí, tiền mất thu nhập của T và người nuôi tiền bồi dưỡng, tiền thuê xe đi bệnh viện.

Bản cáo trạng số: 199/CT-VKS-HS, ngày 13/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Ma Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Và truy tố Hoàng Thanh T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 212/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với Hoàng Thanh T. Xử phạt Hoàng Thanh T 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ mỗi tháng 300.000đ thu nhập của bị cáo T sung công quỹ nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Ngoài ra bản án còn tuyên xử với bị cáo khác, tuyên về trách nhiệm dân sự, tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 11/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện V có Quyết định kháng nghị số 01, kháng nghị một phần bản án về phần áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Thanh T.

Tại phiên toà phúc thẩm, Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang với lý do: bị cáo T là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo T thuộc diện hộ nghèo, bị cáo được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính Phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm án phí lệ phí Tòa án. Ngoài ra sau khi tai nạn bị cáo bị tổn thương cơ thể 41% phải điều trị tại bệnh viện, sau khi ra viện bị cáo vẫn tiếp tục phải điều trị chưa thể lao động được ngay, tài sản riêng của bị cáo chỉ có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Winnerx là phương tiện đi lại bị hư hỏng nặng không sử dụng được, hiện đang trong kho vật chứng. Bản thân bị cáo T chưa xây dựng gia đình, bị cáo chung sống cùng bố mẹ. Do đó bị cáo T thuộc trường hợp đặc biệt được miễn việc khấu trừ thu nhập khi quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, sửa bản án của Tòa án nhân dân theo hướng không áp dụng việc khấu trừ mỗi tháng 300.000 đ thu nhập của bị cáo Hoàng Thanh T sung công quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Phần tranh luận, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo Hoàng Thanh T: bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của Quyết định kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân huyện V tỉnh Bắc Giang được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là Quyết định kháng nghị hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

Xét nội dung kháng nghị thấy: Bị cáo Hoàng Thanh T là người dân tộc sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Sau khi tai nạn bị cáo Hoàng Thanh T bị tổn thương cơ thể 41% phải điều trị tại bệnh viện, sau khi ra viện bị cáo vẫn tiếp tục phải điều trị chưa thể lao động được ngay, tài sản riêng của bị cáo chỉ có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Winnerx là phương tiện đi lại bị hư hỏng nặng với tổng giá trị thiệt hại 16.710.000 đồng, không sử dụng được, hiện đang trong kho vật chứng. Bản thân bị cáo T chưa xây dựng gia đình, bị cáo chung sống cùng bố mẹ. Do đó bị cáo T thuộc trường hợp đặc biệt được miễn việc khấu trừ thu nhập khi quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01 ngày 11/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V tỉnh Bắc Giang và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa, là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Thanh T. Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Thanh T trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao Hoàng Thanh T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và gia đình giám sát, giáo dục T trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

2. Về án phí: bị cáo Hoàng Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ