vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07-11-2022. Án phí: Bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Hiền - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 15-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hồng Hải

Bà Nguyễn Thị Minh Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị H; sinh năm 1989 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn G và bà Phạm Thị G; đã ly hôn và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ ngày 07-11-2022, chuyển tạm giam ngày 16-11-2022; có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị Th, sinh năm 1992; nơi cư trú: số 71 đường Tr, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 03-11-2022, Trần Thị H đội mũ bảo hiểm, mặc áo chống nắng, điều khiển xe máy Novo màu đỏ đen biển kiểm soát 18B1 – 057.43 đến cửa hàng của chị Trần Thị Th, sinh năm 1992, địa chỉ 71 Tr, phường L, thành phố N để gội đầu. Khi vào cửa hàng, H để áo chống nắng và mũ bảo hiểm trên ghế chờ gần cửa ra vào của quán. Khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, sau khi gội đầu và thanh toán xong, H phát hiện có 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A32 màu đen dưới áo chống nắng của mình. H quan sát xung quanh không có ai để ý nên nhanh chóng đội mũ bảo hiểm, mặc áo chống nắng, lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo bên trái của áo chống nắng rồi điều khiển xe máy đi về nhà trọ của mình tại địa chỉ 26/278 đường Giải Phóng, phường Trường Thi, thành phố N. H đã tắt nguồn và tháo sim điện thoại để tránh bị phát hiện.

Khoảng 19 giờ ngày 04-11-2022, H đến cửa hàng của anh Trần Ngọc H, sinh năm 1970, địa chỉ 90B M, phường Th, thành phố N, H nói chiếc điện thoại Samsung A32 màu đen là của chồng mình và bán cho anh Hà với giá 2.900.000 đồng. Số tiền bán điện thoại H đã chi tiêu hết 300.000 đồng, còn lại 2.600.000 đồng.

Ngày 07-11-2022, chị Trần Thị Th đến Công an phường Lộc Vượng, thành phố N để trình báo sự việc mất cắp chiếc điện thoại và giao nộp 01 USB có chứa 02 đoạn video từ camera an ninh ở hiện trường ghi lại sự việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập H lên làm việc. Ngày 07-11-2022, H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản. H đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả cho anh Trần Ngọc H số tiền 2.600.000 đồng H giao nộp.

Tại Cơ quan điều tra, anh Trần Ngọc Hà khai báo vụ việc như trên và giao nộp chiếc chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32, màu đen đã mua của H.

Kết luận định giá số 76/KL-HĐĐGTS ngày 14-11-2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32, màu đen, số IMEI 352473676764015, IMEI 2: 354866126764014, mua từ 09-2022, hiện đã qua sử dụng, đã thu hồi được vật chứng có giá trên thị trường là 3.500.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 1695/KL – KTHS ngày 30-11-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong đoạn video thu tại hiện trường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32, màu đen cho chị Trần Thị Th. Chị Th đã nhận lại và không có đề nghị gì khác.

Trần Thị H nhờ bạn là anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988, trú tại xã H, huyện N, tỉnh Nam Định bồi thường số tiền 300.000 đồng cho anh Trần Ngọc H. Anh H đã nhận đủ số tiền mua điện thọai từ H và không có đề nghị gì khác.

Bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Trần Thị H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Trần Thị H, lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03-11-2022, tại số nhà 71 đường Tr phường L thành phố N, Trần Thị H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Trần Thị Th chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32 trị giá 3.500.000 đồng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vấn đề dân sự: Chị Trần Thị Th đã nhận lại tài sản, anh Trần Ngọc Hà đã nhận số tiền do gia đình bị cáo bồi thường và không đề nghị giải quyết vấn đề dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07-11-2022.

2. Án phí: Bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Trần Thị Thanh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ