vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 24/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, điều luật và hình phạt:

Xử phạt Trần Việt Đức H 30 (ba mươi tháng) tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 97/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo Trần Đức Việt H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 (ba mươi sáu) thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, điều luật và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 24/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền

Hội thẩm nhân dân: Lưu Xuân Giới

Ông Nguyễn Văn Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tấp- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 24/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 11/4/2023 đối với bị cáo:

Trần Việt Đức H; tên gọi khác: không; sinh ngày: 11/02/2004, tại Đông Triều, Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ 2, khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Danh Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thu H; vợ, con: chưa có;

Tiền án: ngày 26/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chưa chấp hành xong thời gian thử thách.

Tiền sự: ngày 07/9/2022, bị Công an thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi “trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 22/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị T; sinh năm: 1987; nơi thường trú: tổ 1, khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Y; sinh năm: 1975; nơi thường trú: khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1998; vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thu H, sinh năm: 1972; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/9/2022, Trần Việt Đức H bị Công an thị xã Quảng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”, đến ngày 26/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên kết án về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích. Biết gia đình chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1987, trú tại khu Kim S, khu Kim Sơn, thị xã Đ - liền kề với nhà H) thường đi làm, ban ngày không có ai ở nhà nên trong thời gian từ ngày 15/12/2022 đến ngày 18/12/2022, H đã nhiều lần đột nhập vào nhà chị T để trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: khoảng 09 giờ ngày 15/12/2022, H cầm theo một chiếc tô vít trèo qua tường bao sau nhà mình sang phía sau nhà chị T, thấy cửa sổ phía sau nhà (cửa sổ phòng bếp) của gia đình chị T đóng nhưng không cài chốt, bên trong có chấn song cửa bằng kim loại hàn thành khung vuông kích thước (0,73x1,16) m được gắn cố định vào tường bằng ốc vít, nên H dùng tô vít tháo chấn song cửa ra khỏi vị trí và chui qua ô cửa trên vào trong nhà, H vào phòng ngủ gần với bếp (phòng ngủ thứ nhất) không tìm thấy tài sản gì để trộm cắp nên H sang phòng ngủ gần cửa ra vào (phòng ngủ thứ hai), phòng này có kê 02 tủ đựng quần áo (dạng tủ đứng), H mở cánh cửa tủ thứ hai (tính từ cửa ra vào) lấy được 01 con lợn đất màu hồng bên trong con lợn đất có tiền, H đem con lợn đất sang phòng bếp và dùng kéo cạy phần đầu con lợn lấy được số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) gồm nhiều tờ tiền mệnh giá từ 1.000đ (một nghìn đồng) đến 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau đó, H để lại con lợn đất vào vị trí cũ (tủ quần áo) rồi chui qua cửa sổ phòng bếp ra ngoài, xếp lại chấn song cửa và trèo qua tường về nhà.

Lần thứ hai: trưa ngày 16/12/2022, H tiếp tục trèo qua tường bao sang nhà chị T, do chấn song cửa sổ bếp đã bị tháo ra từ trước nên H bê song cửa bỏ ra và chui vào trong nhà, vào phòng ngủ thứ hai lấy trộm 01 đồng hồ báo thức màu đen nhãn hiệu Robot ở trên giường, lục ngăn kéo tủ quần áo thứ nhất (tính từ cửa phòng vào) lấy 01 máy sấy tóc màu đen nhãn hiệu Aonikasi - 88682300Walts. Tiếp đó, H đi ra ngoài phòng khách, thấy trên ban thờ ở phòng khách có tiền nên H lấy toàn bộ số tiền đếm được 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 5.000đ (năm nghìn đồng) đến 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Sau đó, H chui ra ngoài và xếp lại song cửa sổ rồi trèo tường về nhà.

Lần thứ ba: trưa ngày 17/12/2022, H tiếp tục trèo qua tường bao sang nhà chị T, bê chấn song cửa sổ bếp bỏ ra ngoài rồi chui vào trong nhà, H đi qua bếp vào phòng ngủ thứ hai lục trong ngăn kéo thứ nhất của tủ quần áo thứ hai và lấy các tài sản gồm 01 chìa khóa ô tô màu đen nhãn hiệu TOYOTA; 01 chìa khóa xe máy nhãn hiệu HONDA; 01 phong bao lì xì bên trong có 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một nghìn đồng), 2.000đ (hai nghìn đồng) và 5.000đ (năm trăm nghìn đồng); 01 nhẫn vàng 9999 loại 0,5 chỉ đựng trong hộp màu đỏ; 01 nhẫn kim loại màu trắng có đính nhiều viên đá nhỏ đựng trong hộp nhựa màu xanh. H lấy nhẫn và bỏ lại 02 (hai) chiếc hộp đựng nhẫn ở ngăn kéo tủ rồi đi ra ngoài phòng khách lấy được 01 máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY TAB 7 LITE trong ngăn kéo tủ ở phòng khách. Sau đó, H thấy cửa sổ phòng ngủ thứ hai hướng ra sân không có chấn song (chỉ có cánh cửa) nên đã mở cửa chui qua ô cửa sổ trên ra ngoài sân và trèo qua tường về nhà. Cùng ngày, H đem 02 chiếc nhẫn đã trộm cắp được của chị T bán cho Chị Nguyễn Thị Y, (sinh năm 1975, trú tại khu Kim S, khu Kim Sơn là chủ cửa hàng kinh doanh vàng bạc Hải Yến) trong đó chiếc nhẫn vàng 9999 loại 0,5 chỉ được 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng), chiếc nhẫn kim loại trắng đính nhiều viên đá nhỏ được 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Chiếc máy tính bảng H đi xe buýt xuống thị xã Quảng Yên bán được 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Số tiền trộm cắp và bán tài sản của chị T, H đã sử dụng hết.

Đến khoảng 05 giờ 45 phút ngày 18/12/2022, H tiếp tục trèo qua tường từ nhà mình vào trong sân nhà chị T dùng chìa khóa xe ô tô trộm cắp được trước đó mở cửa xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS biển kiểm soát 14A-238.80 của chị T đang để ở sân trước cửa nhà, nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi vừa mở được cửa xe thì còi báo động ô tô kêu nên H bỏ chạy rồi trèo qua tường nhà chị T nhảy ra ngoài đường.

Ngày 18/12/2022, chị T có đơn trình báo Công an thị xã Đông Triều. Quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều, thu giữ trong ngăn kéo tủ quần áo 01 hộp màu đỏ, 01 hộp màu xanh, 01 con lợn đất màu hồng; thu giữ trong ô tô 01 ví da. Thu giữ 01 đoạn video clip của nhà chị T ghi lại thời gian từ 05 giờ 46 phút đến 05 giờ 50 phút ngày 18/12/2022.

Ngày 22/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Việt Đức H. Khám xét khẩn cấp nơi ở của H thu giữ 01 chìa khóa màu đen loại xe HONDA; 01 chìa khóa ô tô màu đen nhãn hiệu TOYOTA; 01 máy sấy tóc màu đen nhãn hiệu Aonikasi-88682300Walts; 01 đồng hồ báo thức màu đen nhãn hiệu Robot. Cùng ngày, chị Yến giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều 01 chiếc nhẫn kim loại trắng đính nhiều viên đá nhỏ.

Ngày 06/01/2023, chị T giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều 01 vỏ hộp ghi SAMSUNG GALAXY TAB 7 LITE.

Kết quả kiểm tra dữ liệu điện tử H, chị T, bà Nguyễn Thu Hà (mẹ của H) đều xác định người mặc quần áo tối màu chạy trong sân, trèo lên tường bên phải rồi nhảy lại xuống sân, tiếp tục trèo lên tường bên trái nhà chị T ra bên ngoài là Trần Việt Đức H.

Tại Bản kết luận giám định số 475/KL-KTHS ngày 03/2/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng mặt nhẫn chế tác hình vuông có gắn 41 (bốn mươi mốt) viên vật liệu nhỏ không màu gửi giám định có tổng khối lượng 3,49 gam gồm: phần kim loại là hợp kim của vàng (Au), paladi (Pd), bạc (Ag) và đồng (Cu); hàm lượng Au: 78,95%; Pd: 12,55%; Ag: 0,41%. 41 (bốn mươi mốt) viên vật liệu nhỏ không màu đều là kim cương tự nhiên, do các viên vật liệu được gắn vào phần kim loại nên không xác định được khối lượng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2023 và Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã Đông Triều kết luận: 01 (một) chiếc nhẫn hợp kim có gắn 41 (bốn mươi mốt) viên kim cương tự nhiên có trị giá 25.000.000đ (hai năm triệu đồng); 01 (một) máy sấy tóc màu đen nhãn hiệu Aonikasi-88682300Walts có giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) đồng hồ báo thức màu đen nhãn hiệu Robot có giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng); 01 (một) chìa khóa màu đen loại xe HONDA có giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng); 01 (một) chìa khóa ô tô màu đen nhãn hiệu TOYOTA có giá 100.000đ; 01 (một) nhẫn vàng ta 0,5 chỉ, hàm lượng 99,99% có giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY TAB 7 LITE có giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo Trần Việt Đức H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, bị cáo không lấy thêm tài sản khác của chị T. Bị cáo chỉ đồng ý bồi thường cho chị T số tiền 6.700.000 đồng, trong đó có 1.700.00 đồng tiền mặt bị cáo lấy, 5.000.000 đồng là giá trị của các tài sản không thu được gồm nhẫn vàng ta 0,5 chỉ và máy tính bảng. Số tiền 5.240.000 đồng và đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Ogival bị cáo không lấy của chị T nên bị cáo không đồng ý bồi thường.

Bị hại chị Nguyễn Thị T khai: ngoài số tài sản H khai lấy của chị, chị còn bị mất 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Ogival; 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) trong xe ô tô; 2.000.000đ (hai triệu đồng) trong phong bao lì xì, 1.040.000đ (một triệu không trăm bốn mươi nghìn) trong con lợn đất và 1.000.000đ (một triệu đồng) đều để trong tủ quần áo ở phòng ngủ; 1.000.000đ (một triệu đồng) trên ban thờ. Đến nay, chị đã được cơ quan điều tra trả lại một số tài sản H trộm cắp của chị là máy sấy tóc, đồng hồ báo thức, 01 chìa khóa ô tô, 01 chìa khóa xe máy, 01 nhẫn đính kim cương và các tài sản chị giao nộp là 01 hộp màu đỏ, 01 hộp màu xanh, 01 con lợn đất màu hồng, 01 ví da và 01 vỏ hộp ghi SamSung galaxy Tab 7 Lite. Về trách nhiệm dân sự: Chị T yêu cầu H bồi thường tổng số tiền 7.240.000đ (bảy triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) và những tài sản chưa thu hồi được gồm: 01 nhẫn vàng 9999 khối lượng 0,5 chỉ; 01 máy tính bảng; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Ogival. Đối với con lợn đất bị vỡ có giá trị không lớn, ổ khóa ô tô bị hư hỏng nhẹ nên chị không yêu cầu H bồi thường. Về hình phạt: Chị T đề nghị xử phạt H theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị Y khai: do thời gian đã lâu nên chị không nhớ ngày cụ thể, mà chỉ nhớ vào tháng 12/2022, có một thanh niên (sau này chị biết tên là H) đến cửa hàng bán cho chị 01 nhẫn kim loại đính đá và 01 nhẫn vàng ta 0,5 chỉ. Chị hỏi H nhẫn của ai thì H trả lời là nhẫn của người yêu H. Chị thử 02 chiếc nhẫn bằng phương pháp thủ công, xác định được một nhẫn vàng ta và có ký hiệu nên chị đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng. Còn nhẫn kim loại đính đá thử cũng có thành phần vàng trắng, do nhẫn không có ký hiệu chị không mua, nhưng H bảo là chị trả giá bao nhiêu cũng được, nên chị mua nhẫn đó với giá của nhẫn bạc là 100.000 đồng. Chị không biết nhẫn đó có đính kim cương, vì phương pháp thủ công chị thử không thể phát hiện ra kim cương, mà phải mang nhẫn đi Hà Nội mới thử được. Sau đó, chị bán nhẫn vàng ta cho một thanh niên giá 2.600.000 đồng. Chị không biết lai lịch, địa chỉ của người thanh niên mua nhẫn này. Còn nhẫn kim loại đính đá chị đã nộp lại cho cơ quan điều tra. Quá trình điều tra, chị yêu cầu H trả cho chị số tiền 100.000 đồng đã mua chiếc nhẫn kim loại đính đá. Tuy nhiên, trước khi xét xử chị Yến có đơn không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền này nữa, đồng thời tự nguyện nộp lại 100.000 đồng tiền bán nhẫn vàng ta mà có được.

Người làm chứng Chị Nguyễn Thị T khai: khoảng 05 giờ 48 phút ngày 18/12/2022, chị đang ngủ ở nhà dì của chị là Nguyễn Thị T, thì nghe tiếng còi xe ô tô, sau đó dì chị gọi chị dậy và bảo có trộm vào nhà. Chị và chị T nhìn qua cửa sổ thấy có bóng người ngoài sân chạy về phía cổng và trèo ra ngoài. Sau khi kiểm tra xe ô tô, chị T bảo với chị là bị mất 2.000.000 đồng trong ví và 200.000 đồng để ở ngăn đồ trước ghế phụ xe ô tô.

Người làm chứng Chị Nguyễn Thu H khai: Chị là mẹ của bị cáo H. Khi cơ quan khám xét nhà chị có thu giữ được các tài sản gồm 01 đồng hồ báo thức, 01 máy sấy tóc, 01 chìa khóa xe máy, 01 chìa khóa ô tô. Chị không biết các tài sản này là do H trộm cắp mà có.

Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS- ĐT ngày 24/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố Trần Việt Đức H về tội “trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật Hình sự: xử phạt Trần Việt Đức H từ 24 đến 30 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 97/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt 22/12/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Trần Việt Đức H bồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 6.700.000đ (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Biện pháp tư pháp: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Buộc chị Yến nộp lại số tiền 100.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Việt Đức H đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể trong các ngày 15, 16 và 17/12/2022, bị cáo vào nhà chị T trộm cắp tổng số tiền 1.700.000 đồng và các tài sản gồm máy sấy tóc, đồng hồ báo thức, chìa khóa xe ô tô, chìa khóa xe mô tô, nhẫn vàng ta 0,5 chỉ, máy tính bảng, nhẫn hợp kim gắn viên kim cương. Riêng số tiền 5.540.000 đồng và chiếc đồng hồ nhãn hiệu Ogival chị T khai bị trộm cắp, nhưng H không thừa nhận. Quá trình điều tra chưa có đủ cơ sở để xác định H đã trộm cắp số tiền và tài sản này của chị T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau. Như vậy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về số tài sản chứng minh được bị cáo đã trộm cắp, người làm chứng, Bản ảnh hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thực nghiệm điều tra, Biên bản khám xét, Bản kết luận giám định số 475/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2023 và số 09/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã Đông Triều, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trần Việt Đức H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản” và bị kết án về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích, trong các ngày từ 15/12/2022 đến ngày 17/12/2022, tại khu Kim S, khu Kim Sơn, thị xã Đông Triều, H đã 03 (ba) lần cạy khung cửa sổ và đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị T trộm cắp tài sản và tiền với tổng trị giá 32.200.000đ (ba mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó:

Sáng ngày 15/12/2022, H trộm cắp số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng);

Trưa ngày 16/12/2022, H trộm cắp 01 (một) máy sấy tóc; 01 (một) đồng hồ báo thức và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền mặt. Giá trị tài sản là: 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng);

Trưa ngày 17/12/2022, H trộm cắp 01 (một) chìa khóa xe ô tô; 01 (một) chìa khóa mô tô; 01 (một) nhẫn vàng ta 0,5 chỉ, hàm lượng 99,99%; 01 (một) máy tính bảng; 01 (một) chiếc nhẫn hợp kim gắn 41 (bốn mươi mốt) viên kim cương tự nhiên và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền mặt. Giá trị tài sản là 30.650.000đ (ba mươi triệu sáu trăm năm mươi nghìn).

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, làm mất trật tự trị an, tạo nên tâm lý bất an, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, do lười lao động, để có tiền tiêu sài bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp. Mặt khác, bản thân bị cáo đã bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính cùng về hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng không lấy đó là bài học mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức cải tạo kém. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân, tình tiết tăng năng, giảm nhẹ:

Về tiền án: ngày 26/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chưa chấp hành xong thời gian thử thách.

Về tiền sự: ngày 07/9/2022, bị Công an thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi “trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: ngày 26/9/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Trong thời gian thử thách, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mới, nên căn cứ khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án số 97/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên và tổng hợp với hình phạt của bản án này.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.240.000 đồng và các tài sản chưa thu hồi được gồm 01 nhẫn vàng ta 0,5 chỉ; 01 máy tính bảng và 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Ogival. Bị cáo chỉ đồng ý bồi thường số tiền đã trộm cắp là 1.700.000 đồng và giá trị của tài sản trộm cắp không thu hồi được là nhẫn vàng ta 0,5 chỉ; 01 máy tính bảng. Quá trình điều tra xác định bị cáo trộm cắp số tiền 1.700.000 đồng, tài sản không thu hồi trả cho chị T được là 01 nhẫn vàng ta 0,5 chỉ trị giá 2.500.000 đồng, 01 máy tính bảng trị giá 2.500.000 đồng. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu của chị T, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị T tổng số tiền là 6.700.000 đồng. Đối với số tiền 5.540.000 đồng và chiếc đồng hồ nhãn hiệu Ogival, hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Chị Yến không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000 đồng, nên không đề cập giải quyết.

Xử lý vật chứng: các tài sản gồm 01 (một) máy sấy tóc; 01 (một) đồng hồ báo thức; 01 (một) chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu HONDA; 01 (một) chìa khóa ô tô nhãn hiệu TOYOTA; 01 (một) chiếc nhẫn hợp kim gắn 41 (bốn mươi mốt) viên kim cương tự nhiên; 01 (một) hộp màu đỏ; 01 (một) hộp màu xanh; 01 (một) con lợn đất màu hồng; 01 (một) ví da; 01 (một) vỏ hộp ghi SAMSUNG GALAXY TAB 7 LITE xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T nên ngày 03/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều đã ra Quyết định xử lý vật chứng là trả lại cho chủ sở hữu. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay chị T không ý kiến gì, nên không đề cập giải quyết.

Về biện pháp tư pháp:

Chị Nguyễn Thị Y bán tài sản trộm cắp là nhẫn vàng ta 0,5 chỉ ngay tình, được hưởng lợi số tiền 100.000 đồng và có quan điểm tự nguyện nộp lại số tiền này để sung ngân sách Nhà nước, nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về án phí:

Án phí hình sự: bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự: bị cáo phải chịu 335.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đối với số tiền và chiếc đồng hồ nhãn hiệu Ogival chị T khai bị trộm cắp H không thừa nhận nên chưa có đủ cơ sở để xác định H đã trộm cắp số tiền và tài sản này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh, điều luật và hình phạt:

Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Trần Việt Đức H 30 (ba mươi tháng) tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 97/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo Trần Đức Việt H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt 22/12/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Trần Việt Đức H bồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 6.700.000đ (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về biện pháp tư pháp: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Buộc Chị Nguyễn Thị Y nộp lại số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 535.000đ (năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Thị Thu Hiền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ