vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn Út L phạm tội "Cướp tài sản". Xử phạt bị cáo Lưu Văn Út L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn Út L - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 02 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp

2. Ông Trương Công Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Tiết Ánh Hồng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Văn Út L (Phương), sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp Ông M, xã Lý V, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn M và bà Hồ Thị Thanh Ph; vợ: Lê Thị Ánh X; con: 03 người; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 159/2018/QĐ-TA ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng, bị cáo chấp hành xong Quyết định vào ngày 13/4/2020.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2022 và chuyển sang tạm giam từ ngày 12/10/2022 đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: Khóm N, phường M, thành phố C, tỉnh C

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/10/2022, Lưu Văn Út L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Majesty màu xanh biển kiểm soát 83H5-4854, từ ấp Ông Muộn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau đến khu vực Vincom đối diện Trung tâm Hội nghị tỉnh Cà Mau, thuộc phường 1, thành phố Cà Mau để mua đồ ăn tối, L thấy chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1980, ngụ khóm 5, phường 1, thành phố Cà Mau đang đạp xe bán bắp xào nên L ghé mua một hộp bắp xào và trả cho chị Nh 20.000đ, chị Nh lấy tiền bỏ vào túi áo khoác bên trái. Sau đó L điều khiển xe đến cổng Trung tâm Hội nghị để ăn hộp bắp xào. Sau khi ăn xong, L kiểm tra lại trong người đã hết tiền và nhớ trong túi chị Nh có tiền nên nảy sinh ý định dùng vũ lực khống chế cướp tiền của chị Nh.

Để thực hiện ý định của mình, L quay xe lại tìm chị Nh nhưng chị Nh đã đạp xe đi về hướng đường Phan Ngọc Hiển nối dài cách vị trí khi mua bắp xào khoảng 184m, L điều khiển xe chạy theo đồng thời quan sát xung quanh thấy đường vắng, không người qua lại nên quyết định thực hiện hành vi. L điều khiển xe chạy lại gần xe của chị Nh, đậu xe cách xe của chị Nh khoảng 5-6m. Sau đó L đi bộ nhanh về hướng chị Nh rồi từ phía sau bất ngờ dùng tay trái nắm giật lấy túi áo đựng tiền, còn tay phải thì choàng qua cổ chị Nh kéo mạnh xuống làm chị Nh mất thăng bằng bước xuống xe rồi ngã úp mặt xuống đường. Lúc này L tiếp tục xông vào câu vật chị Nh, dùng tay và chân đè mạnh lên người chị Nh. Sau khi khống chế được chị Nh, L lấy đi trong túi áo khoác của chị Nh số tiền 1.800.000đ nhét vào túi quần phía sau bên phải rồi điều khiển xe rời khỏi hiện trường, điều khiển xe ra hướng đường Ngô Quyền rồi rẽ vào hẻm sau khách sạn Nam Kiều thuộc khóm 1, phường 9, thành phố Cà Mau để kiểm đếm số tiền cướp được. Do không cẩn thận trong quá trình cất tiền nên L đã làm rơi một phần tiền cướp được (không rõ rơi tại đâu) chỉ còn 265.000đ. Sau khi đếm tiền xong, L điều khiển xe vào đường số 12, khu Happy Home thuộc khóm 1, phường Tân Xuyên, thành phố Cà Mau để xuống ao hái sen và làm rơi mất số tiền còn lại.

Về vật chứng tạm giữ và xử lý trong vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Majesty màu xanh biển kiểm soát 83H5-4854; 01 nón kết màu đen có chữ VL màu vàng; 01 áo thun ngắn tay màu đen nhãn hiệu V-H Fashion; 01 quần Jean màu nâu, nhãn hiệu TP Gold đã qua sử dung (tài sản cá nhân của bị cáo L); 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro trắng – đỏ đen, không nhãn hiệu, phần túi áp ngực trái và nách áo trái bị rách (tài sản cá nhân của chị Nh) đang nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị cướp là 1.800.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Lưu Văn Út L về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn Út L phạm tội “Cướp tài sản”; Xử phạt bị cáo Lưu Văn Út L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Majesty màu xanh biển kiểm soát 83H5-4854.

Tịch thu tiêu hủy: 01 nón kết màu đen có chữ LV màu vàng; 01 áo thun ngắn tay màu đen nhãn hiệu V-H Fashion; 01 quần Jean màu nâu, nhãn hiệu TP Gold; 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro trắng – đỏ đen, không nhãn hiệu, phần túi áp ngực trái và nách áo trái bị rách.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra là do tự nguyện khai, không bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên. Đồng thời, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố không oan sai, đúng với hành vi bị cáo gây ra cho bị hại. Bị cáo đã biết lỗi và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự bị cáo thống nhất bồi thường số tiền 1.800.000đ theo yêu cầu bị hại và bị cáo đã bồi thường, khắc phục cho bị hại xong. Đối với chiếc xe mô tô gia đình bị cáo mua để làm phương tiện đi lại, bị cáo xin nhận lại để vợ dùng đi làm hàng ngày nuôi con. Đối với các tài sản cá nhân khác bị cáo không có yêu cầu nhận lại.

Ý kiến của bị hại: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau. Trước khi mở phiên tòa bị cáo đã bồi thường khắc phục trực tiếp cho bị hại số tiền 1.800.000đ, bị hại không có yêu cầu gì về dân sự, về hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với tài sản cá nhân đã thu giữ để điều tra bị hại không có yêu cầu nhận lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn Út L khai nhận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/10/2022 tại đường Phan Ngọc Hiển đoạn thuộc khóm 5, phường 1, thành phố Cà Mau, Lưu Văn Út L có hành vi dùng vũ lực bằng cách dùng tay câu cổ, kéo chị Nh ngã úp mặt xuống đường, sau đó dùng tay và chân đè lên người của chị Nh để cướp số tiền 1.800.000đ nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức và biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn hưởng lợi mà không phải lao động cực khổ nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cướp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

[3] Xét tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản mà còn xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Với đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được xem xét chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị mất là 1.800.000đ. Tại phiên tòa bị cáo và bị hại xác định bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 1.800.000đ và bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Majesty màu xanh biển kiểm soát 83H5-4854, qua xác minh đây là phương tiện bị cáo mua lại của người khác và sử dụng để làm phương tiện đi lại, khi cướp tài sản của bị hại bị cáo đi bộ, không trực tiếp dùng xe để cướp, tại phiên tòa bị cáo xin cho gia đình bị cáo nhận lại nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo là phù hợp nên được xem xét chấp nhận.

Đối với 01 nón kết màu đen có chữ LV màu vàng; 01 áo thun ngắn tay màu đen nhãn hiệu V-H Fashion; 01 quần Jean màu sậm, nhãn hiệu TP - Gold là tài sản cá nhân của bị cáo L, các vật này đã qua sử dụng và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro trắng – đỏ đen, không nhãn hiệu, phần túi áo và nách áo bên trái bị rách là tài sản cá nhân của chị Nh, đã qua sử dụng và đã hư hỏng, chị Nh không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn Út L phạm tội "Cướp tài sản".

Xử phạt bị cáo Lưu Văn Út L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Majesty màu xanh biển kiểm soát 83H5-4854.

Tịch thu tiêu hủy: 01 nón kết màu đen có chữ LV màu vàng; 01 áo thun ngắn tay màu đen nhãn hiệu V-H Fashion; 01 quần Jean màu sậm, nhãn hiệu TP-Gold; 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro trắng - đỏ - đen, không nhãn hiệu, phần túi áo và nách áo bên trái bị rách.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ