- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Công K - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P ––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HS-ST Ngày 16 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Văn Thành
Thẩm Phán:
Ông Nguyễn Hà Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Bá Điền
Ông Nguyễn Xuân Đào
Bà Nguyễn Thị Phẩm
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hiền- Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày11 tháng 5 năm 2023 và ngày 16 tháng 5 năm 2023 Tòa án nhân dân tỉnh P tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Công K; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/6/2004, tại T, P; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Trình độ học vấn: 9/12;Nghề nghiêp: Lao động tự do;Nơi ĐKHKTT +chỗ ở: khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P; Bố đẻ: Phan Văn B, sinh năm 1969; Mẹ đẻ: Lê Thị H sinh năm 1977; Anh chị em ruột: có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba;Vợ, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tạ Gia Lƣơng và bà Nguyễn Thị Kim Lan- Luật sư Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Quang Huy và cộng sự, chi nhánh P thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. (Có mặt)
* Bị hại: Ông Phan Công C, sinh năm 1960; Địa chỉ: khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P. (Có mặt ngày 11/5/2023; vắng mặt ngày 16/5/2023)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Công M, sinh năm 1966; Địa chỉ: khu 15, xã D, huyệnT, tỉnh P. (Có mặt ngày 11/5/2023; vắng mặt ngày 16/5/2023)
- Chị Phan Thị P, sinh năm 1999; Địa chỉ: khu 17, xã V,huyện T, tỉnh P. (Có mặt).
- Ông Phan Văn B, sinh năm 1969Địa chỉ: khu 15, xã D, huyệnT, tỉnh P. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Phan Ngọc D, sinh năm 1992; Địa chỉ: khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P. (Có mặt ngày 11/5/2023; vắng mặt ngày 16/5/2023)
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P. (Có mặt ngày 11/5/2023; vắng mặt ngày 16/5/2023)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 02/7/2022, Phan Công K, sinh năm 2004, trú tại khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P đang ở nhà thì có ông Phan Công C, sinh năm 1960 và ông Phan Công M, sinh năm 1966 cùng trú tại khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P đi đến hỏi K lý do đánh bà Đỗ Thị Cẳm, sinh năm 1934, nơi cư trú: khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P (bà Cẳm là mẹ đẻ của ông C và ông M, đồng thời là bà nội của K) vì ông M, ông C thấy trên mặt bà Cẳm có vết thâm tím và nghe bà Cẳm kể lại (bà Cẳm hiện tại đã già yếu và đại diện gia đình bà Cẳm xác định khoảng hơn một năm nay trí nhớ của bà Cẳm thường bị lẫn, không còn M mẫn, không tự tắm rửa, sinh hoạt cá nhân). K nói “cháu không đánh, tối qua bà bị ngã trên giường xuống”. Ông C nói K “có thích cãi không, thích đi tù không”, K nói “Ông biến mẹ về đi, trước các ông cũng đánh bà đấy, có ai bảo gì đâu, cháu có được đánh bà đâu mà bảo cháu đánh bà” nên hai bên xảy ra cãi chửi nhau. K đứng dậy dùng tay xua đuổi ông C, ông M ra ngoài, do đó ông M, ông C và K xảy ra xô xát, đánh nhau. Sau đó, bực tức do bị đánh nên K quay lại vị trí bàn uống nước lấy 01 con dao (loại dao tự chế thường gọi là dao mèo dài 41,5 cm, phần lưỡi dao dài 26,5 cm, có một đầu nhọn, bản rộng nhất của lưỡi dao rộng 4 cm, chuôi bằng gỗ có 03 khâu đồng, dao có bao gỗ bên ngoài) để ở dưới gầm tủ kê gần bàn uống nước trong phòng khách rồi giơ dao chỉ về phía ông C, ông M để đuổi ông M, ông C ra khỏi nhà. Thấy K cầm dao trên tay nên ông C, ông M đi ra ngoài sân. Khi thấy K cầm dao đi ra trước thềm nhà ở, ông C đi ra bờ rào rút 01 đoạn cây tre dài 2,6 m, đường kính 03 cm rồi đi về phía K, lúc này K đứng trên bậc thềm, ông C đứng dưới sân, K đứng đối diện cách ông C khoảng 02 mét; trên tay phải của K đang cầm dao chỉ về phía ông C, thấy K chỉ dao về mình nên ông C đã giơ gậy tre để vụt về phía tay phải cầm dao của K, tuy nhiên ông C không vụt trúng dao mà vụt một nhát trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái và một nhát trúng vào vai trái của K. Sau khi bị vụt trúng người, K cầm dao ở tay phải lao về phía ông C, đứng đối diện và cách ông C khoảng 50 cm rồi giơ dao lên cao, phần lưỡi dao hướng lên trên, phần sống (gáy) dao hướng xuống dưới rồi chém từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái của ông C. K tiếp tục dùng phần sống dao chém về phía ông C nhưng chém trượt do đã được ông M can ngăn, đẩy ra. Đồng thời, ông C tiếp tục cầm đoạn cây tre vụt vào người K còn ông M dùng chân tay đấm vào K. K thấy đầu ông C chảy máu nên vứt bỏ con dao ra phía máy xát lúa của gia đình K; K tiến sát người ông C nên ông C không vụt được K; rồi hai bên tiếp tục xô xát, đánh nhau. Lúc này, chị Phan Thị P, sinh năm 1993, nơi cư trú: khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P là chị gái của K chạy ra can ngăn. Khi đó chị P đang quét nhà nên cầm trên tay 01 cây chổi có cán bằng inox, ông M và chị P giằng co nhau cán chổi trên. Sau đó K đi vào trong nhà, Ông C có dùng gậy tre vụt một phát vào vùng eo bên phải của chị P. Sau đó, ông C và ông M đi về. Hậu quả vụ việc: Ông C bị thương rách da vùng đầu phải khám và điều trị tại Bệnh viện Quân y 105, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, TP Hà Nội. K bị thương tích ở vùng đầu, vai bên trái.
- Kết quả khám tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức xác định thương tích của ông Phan Công C như sau:
+ Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng trán thái dương phải dày 3mm.
+ Đường giữa cân đối không có dấu hiệu đè đẩy.
+ Hệ thống não thất cân đối, không giãn. Dịch não tủy đồng nhất.
+ Các xoang sọ mặt không thấy bất thường.
+ Vỡ xương đỉnh phải lan xuống phần trai xương thái dương.
Kết luận: Hình ảnh chấn thương sọ não như mô tả.
- Kiểm tra dấu vết trên thân thể Phan Công K xác định có thương tích:
+ Vết xước da ở vị trí vai trái có kích thước (0,5 x 02) cm.
+ Vùng sưng nề dưới da đầu có kích thước (02 x 02) cm.
Kết quả chụp chiếu ngày 04/7/2022 tại Trung tâm y tế huyện T xác định: Không phát hiện bất thường hay tổn thương xương sọ; không có hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng và trong nhu mô não; không thấy vùng thay đổi tỷ trọng bất thường trong nhu mô não; hệ thống não thất không giãn, dịch trong, cân đối.
- Kết quả tự chụp chiếu thương tích của chị Phan Thị P tại Trung tâm y tế huyện T ngày 04/7/2022 xác định:
+ Lồng ngực cân đối, không thấy bất thường xương và phần mềm thành ngực.
+ Không thấy tràn dịch, tràn khí màng phổi hai bên.
* Kết quả xác định hiện trường:
Nơi xảy ra vụ án ngày 02/7/2022 là tại sân nhà ở của ông Phan Văn B, sinh năm 1969 thuộc khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P. Nhà ở được thiết kế xây dựng nhà cấp 4; có thềm hè kích thước (1,8 x 5,3) mét; từ thềm xuống sân là hai bậc lên xuống; sân được lát gạch đỏ kích thước (9,5 x 5) mét. Xung quanh nhà được thiết kế tường bao bằng gạch đỏ. Quá trình xác định hiện trường không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
* Kết quả trưng cầu giám định:
Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh P đã tiến hành trưng cầu giám định tổn hại sức khỏe của ông Phan Công C. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 189/TgT/2022 ngày 23/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phan Công C là 21 % (Hai mươi mốt phần trăm). Cụ thể:
+ Vết sẹo đỉnh đầu bên trái: 01%
+ Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái điều trị nội khoa không còn hình ảnh trên phim chụp ngày 14/9/2022: 05%
+ Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải điều trị nội khoa nội khoa không còn hình ảnh trên phim chụp ngày 14/9/2022: 08%
+ Xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái đã điều trị không có di chứng thần kinh, không còn hình ảnh trên phim chụp ngày 14/9/2022: 08%
+ Vết sẹo mặt trước khớp gối bên phải: 01%.
……
Áp dụng P pháp cộng tại thông tư: 21,19%. Làm tròn: 21%.
- Cơ chế hình thành thương tích:
+ Vết sẹo đỉnh đầu bên trái, xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái, tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải: Do tác động của vật cứng có gờ cạnh và bề mặt giới hạn gây nên.
+ Vết sẹo mặt trước khớp gối phải: Do tác động quệt trượt vưới vật cứng có bề mặt không phẳng gây nên.
+ Vùng ngang nách bên phải không để lại tổn thương nên không xác định được cơ chế chấn thương.
Ngày 23/11/2022, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh P đã trưng cầu giám định Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với các dấu vết thu giữ trên các vật chứng, đồ vật, tài liệu. Tại Bản kết luận giám định số: 8058/KL-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
Không phát hiện thấy dấu vết máu người trên dao (ký hiệu M, loại dao mèo đã qua sử dụng dài 41,5 cm, phần lưỡi dao dài 26,5 cm, có một đầu nhọn, bản rộng nhất của lưỡi dao rộng 04 cm, chuôi bằng gỗ có 03 khâu đồng, dao có bao gỗ bên ngoài) gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã đề nghị Viện khoa học hình sự Bộ Công an giải thích, làm rõ nội dung nguyên nhân “Không phát hiện thấy dấu vết máu người trên con dao (ký hiệu M) gửi giám định”.Tại văn bản số 234/C09-TT3 ngày 09/02/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã trả lời:
- Các giám định viên đã tiến hành giám định định hướng dấu vết máu, xác định trên toàn bộ các bề mặt của mẫu ký hiệu M gửi giám định. Kết quả thu được đều là âm tính.
- Bên cạnh đó, các vị trí nghi có dấu vết máu bám dính trên mẫu ký hiệu M gửi giám định còn được tiến hành giám định ADN. Kết quả là không thu được kiểu gen.
Quá trình giám định đã được thực hiện trên các thiết bị, P tiện, hóa chất hiện có tại Viện khoa học hình sự. Với kết quả thu được, các giám định viên đã đi đến kết luận: “Không phát hiện thấy dấu vết máu người trên con dao (ký hiệu M) gửi giám định”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định tổn hại sức khỏe của bị can Phan Công K. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 29/TgT/2023 ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
- Sau khi bị người khác gây thương tích tại thời điểm giám định trên cơ thể anh Phan Công K không còn để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Cơ chế hình thành thương tích: Không xác định được cơ chế gây thương tích do trên cơ thể anh K không còn tổn thương gì.
Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định tổn hại sức khỏe của chị Phan Thị P. Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 49/KLTTCT/TTPY ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
- Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Phan Thị P tại thời điểm giám định vùng mạn sườn bên phải không để lại thương tích nên Trung tâm pháp y không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Cơ chế hình thành thương tích: Tại thời điểm giám định vùng mạn sườn bên phải không để lại thương tích nên Trung tâm pháp y tỉnh P không xác định được vật gây thương tích.
Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung các kết luận giám định trên cho những người có liên quan biết, không có ý kiến gì khác.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
- Thu giữ 01 con dao (loại dao mèo đã qua sử dụng) dài 41,5 cm, phần lưỡi dao dài 26,5 cm, có một đàu nhọn, bản rộng nhất của lưỡi dao rộng 4 cm, chôi bằng gỗ có 03 khâu đồng, dao có bao gỗ bên ngoài.
- 01 (một) đoạn cây tre (loại tre đực) dài 2,6 m, đường kính 03 cm.
- 01 (một) đoạn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc bị cong, móp méo không định hình dài 01 m, đường kính 01 cm.
Tại cơ quan điều tra, bị can Phan Công K đã thành khẩn khai báo và hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ.
* Về động cơ, mục đích: Do bị ông M, ông C cho rằng K là người đã đánh bà Cẳm nên ông M, ông C và K đã xảy ra mâu thuẫn và K đã không làm chủ được bản thân mà đã sử dụng 01 con dao (loại dao mèo) chém vào vùng đỉnh đầu bên trái ông C gây tổn thương cơ thể ông C là 21%.
* Về tính chất, mức độ do hành vi phạm tội gây ra: Hành vi dùng 01 con dao (loại dao mèo) có chiều dài 41,5cm, phần lưỡi dao dài 26,5 cm, có một đầu nhọn, bản rộng nhất của lưỡi dao rộng 4 cm, chuôi dao bằng gỗ là hung khí nguy hiểm chém phần sống lưng dao một nhát vào vùng đầu ông C (là vùng trọng yếu trên cơ thể) của Phan Công K đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
* Về bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra vụ án, ông Phan Công C đã được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Quân y 105, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, TP Hà Nội;mọi chi phí điều trị ông C tự chi trả, không yêu cầu Phan Công K và gia đình K bồi thường, hỗ trợ khoản tiền gì liên quan đến thương tích của ông C. Chi phí điều trị thương tích sau khi bị ông C dùng gậy vụt thì chị P tự chi trả, không yêu cầu ông C bồi thường khoản tiền gì liên quan thương tích trên. Bị cáo Phan Công K không yêu cầu đề nghị ông C phải bồi thường, hỗ trợ khoản tiền gì đối với thương tích của K do ông C gây ra.
* Về thu nhập, tài sản: Cơ quan điều tra đã xác M bị cáo Phan Công K không có tài sản gì ngoài các đồ dùng cá nhân.
Cáo trạng số26/CT-VKS-P2 ngày 03/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đã truy tố bị cáo Phan Công Kvề tội: “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Phan Công K phạm tội “Giết người”.
Về điều luật áp dụng và hình phạt
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 ; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Công Ktừ 04 đến 05 năm tù Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 10/11/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan công K.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án, cụ thể gồm:
- 01 (một) con dao (loại dao mèo đã qua sử dụng) dài 41,5 cm, phần lưỡi dao dài 26,5 cm, có một đàu nhọn, bản rộng nhất của lưỡi dao rộng 4 cm, chôi bằng gỗ có 03 khâu đồng, dao có bao gỗ bên ngoài.
- 01 (một) đoạn cây tre (loại tre đực) dài 2,6 m, đường kính 03 cm.
- 01 (một) đoạn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc bị cong, móp méo không định hình dài 01 m, đường kính 01 cm.
Xác nhận bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000đ để bồi thường cho bị hại ông Phan Công C.
Về án phí: Bị cáo Phan Công K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm bào chữa của các luật sư bào chữa cho bị cáo:
Áp dụng khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phan Công K không phạm tội “Giết người”.
Áp dụng Điều 125Bộ luật Hình sự. Trả tự do cho bị cáo Phan Công K ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.
Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P xem xét hành vi của ông Phan Công C và ông Phan Công M.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xém xét giảm cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm quay về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quankhông có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Các quyết định tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội:
Tại Cơ quan điều tra cho đến phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Phan Công K đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:
Khoảng 07 giờ ngày 02/7/2022, tại nhà của Phan Công K ở khu 15, xã D, huyện T, tỉnh P, xuất phát từ việc ông Phan Công C, Phan Công M (là bác ruột của K) đổ lỗi cho K đánh bà Đỗ Thị Cẳm (bà nội của K và là mẹ đẻ ông C, ông M) nên K và ông C, ông M đã xảy mâu thuẫn đánh nhau. K đã lấy 01 con dao loại dao mèo có chiều dài 41,5cm để dưới gầm tủ đi ra trước thềm nhà và giơ dao lên để đuổi ông C, ông M về thì ông C đi ra bờ rào lấy 01 cây gậy tre dài 2,6m, đường kính 03cm và vụt vào người K, lúc này ông C ở dưới sân, còn K đứng ở trên thềm nhà. Bị đánh trúng, K đã cầm dao chạy từ thềm nhà xuống sân đến chỗ ông C đang đứng và giơ dao lên chém phần sống lưng dao 01 nhát trúng vào vùng đầu ông Phan Công C, khi K giơ phần sống lưng dao để tiếp tục chém ông C thì được ông M can ngăn đẩy ra nên không trúng. Hậu quả: ông C bị vỡ xương đỉnh phải lan xuống phần trái xương thái dương, tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải, xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái.. với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể ông C là 21%. Hành vi của K sử dụng dao (loại dao mèo) và nhằm vào vùng đầu của ông C để chém, đây là vùng trọng yếu trên cơ thể, có khả năng dẫn đến chết người. Do ông C được cấp cứu kịp thời nên hậu quả chết người chưa xảy ra.
Với hành vi nêu trên của bị cáo Phan Công K các luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng về tương quan lực lượng và tương quan về hung khí thì hành vi của bị cáo là phòng vệ C đáng nên không phạm tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thể hiện bị cáo có bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra chưa đến mức tinh thần bị kích động mạnh. Đồng thời hành vi của bị cáo và hành vi của bị hại không diễn ra liên tục mà đã có một thời gian bị gián đoạn như bị cáo khai “Khi bị ông C đánh 02 gậy vào đầu và vào vai bị cáo đã dừng lại 30 giây suy nghĩa do bức xúc hành vi của ông C chửi bới và đánh mình nên bị cáo đã từ trên thềm xuống sân dùng dao chém một nhát vào đầu ông C” nên hành vi của bị cáo tấn công bị hại không phải là hành vi phòng vệ C đáng.
Như vậy, xác định hành vi của bị cáo Phan Công K đã phạm vào tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P là đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng.Hành vi của Phan Công K đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa P. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm M đối với Phan Công K theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến vai trò, nhân thân, tính chất, mục đích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáobị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của ông C, ông M gây ra như đổ lỗi cho bị cáo là đánh bà nội của bị cáo, là mẹ của ông M, ông C và bị ông C dùng gậy tre vụt vào đầu và vai của bị cáo; Bị cáo tác động với gia đình để nộp một khoản tiền bồi thường khắc phục hậu quả là 5.000.000đ; Gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng có ông nội là ông Phan Công Chức được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến. Bị hại là ông Phan Công C có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định.
Đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra hậu quả nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Vì vậy, khi áp dụng mức hình phạt cần áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù hậu quả chưa xảy ra nhưng thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Do vậy, lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo làm nghề tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị hại ông Phan Công C, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị P không yêu cầu xem xét về việc bồi thường trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên bị cáo tự nguyệnnộp 5.000.000đ để bồi thường cho bị hại ông Phan Công C cần xác nhận bị cáo tự nguyện bồi thường khoản tiền trên cho bị hại là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
Đối với các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đề nghị về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo:Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật..
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về điều luật áp dụng và tội danh:
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; 591 Bộ luật Dân sự.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phan Công K phạm tội “Giết người”.
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phan Công K 03 (Ba) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 10/11/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan công K.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận bị cáo Phan Công K đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để bồi thường cho bị hại ông Phan Công C theo biên lai số AA /2020/0000451 ngày 11/4/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh P.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án, cụ thể gồm:
- 01 (một) con dao (loại dao mèo đã qua sử dụng) dài 41,5 cm, phần lưỡi dao dài 26,5 cm, có một đàu nhọn, bản rộng nhất của lưỡi dao rộng 4 cm, chôi bằng gỗ có 03 khâu đồng, dao có bao gỗ bên ngoài.
- 01 (một) đoạn cây tre (loại tre đực) dài 2,6 m, đường kính 03 cm.
- 01 (một) đoạn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc bị cong, móp méo không định hình dài 01 m, đường kính 01 cm.
(Tình trạng vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh P ngày 04 tháng 04 năm 2023).
[5]Về án phí:
Bị cáo Phan Công Kphải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6]Quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên ánđể yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh P;
- Phòng PC01 - CA tỉnh P;
- Sở Tư Pháp tỉnh P;
- Cục THADS tỉnh P;
- Cơ quan THAHS - CA tỉnh P;
- Trại tạm giam - CA tỉnh P;
Tạ Văn Thành
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS, AV.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Bá Điền Đỗ Thị M Nguyệt
Tạ Văn Thành
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh P; - Phòng PC01 - CA tỉnh P; - Sở Tư Pháp tỉnh P; - Cục THA Dân sự, hình sự; - Trại Tạm giam -CA tỉnh P; - Bị cáo - Người bào chữa cho bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, AV. | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Thành |