vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyên B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Nguyên B 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/12/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Nguyên B - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyên B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 13-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Long

2. Bà Phùng Thị Hoài Phương

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 13/7/2023, Hội trường thôn Quảng Hiệp, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLHS-ST ngày 31/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HS ngày 28/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Nguyên B, sinh năm 1992 tại: Khánh Hòa; nơi thường trú: Thôn SL, xã NA, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Nhân viên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Phạm Quốc Phong; con bà: Nguyễn Thị Kim Loan; vợ: Nguyễn Thị Tiến; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 12/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Sáng T – Văn phòng luật sư Nguyễn Xuân Trường; Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị hại: Công ty cổ phần Thế giới di động. Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Hoàng Yến; chức vụ: Giám đốc bán hàng khu vực.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Trung Th, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 32 Xuân Trường, xã Xuân Trường, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

Người làm chứng: Bà Bế Thúy An, sinh năm 1989; địa chỉ: 45 Nguyễn Du, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Nguyên B là nhân viên tại cửa hàng điện máy xanh tại địa chỉ số 426 Quốc lộ 20, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng từ tháng 8/2017, đến khoảng tháng 9/2021 thì chuyển sang làm B trì cho các chi nhánh điện máy xanh tại khu vực huyện Đức Trọng. Đầu tháng 12/2022, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên B nảy sinh ý định sẽ đột nhập vào cửa hàng Điện máy xanh để trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân nên 01h sáng ngày 12/12/2022, Phạm Nguyên B chuẩn bị công cụ gồm kìm, cưa sắt, 02 cờ lê, búa đinh, đục để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi chuẩn bị xong B bỏ toàn bộ các công cụ vào cốp xe máy biển số 79H1-199.14, rồi đi từ phòng trọ tại thôn Tân Trung, xã Tân Hội, huyện Đức Trọng đến cửa hàng điện máy xanh tại số 462 Quốc lộ 20, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, (do B đã làm việc tại đây nên biết rõ vị trí, lối ra vào và quy luật sinh hoạt của nhân viên cửa hàng ). B đi đến khu vực phía sau cửa hàng và giấu xe máy vào sát bụi cây, mở cốp xe lấy lưỡi cưa sắt bỏ vào túi áo khoác, lấy kìm bỏ vào túi quần rồi trèo lên cây bơ đi qua mái tôn, trèo tiếp lên tầng 3 của cửa hàng điện máy xanh, vào trong cửa hàng đi xuống tầng trệt với mục đích tìm thùng đựng điện thoại để trộm cắp. Khi đi đến khu vực tầng trệt, B đi vào trong kho để tìm thùng điện thoại nhưng không thấy. Tại đây B nhìn thấy 01 két sắt bên cạnh kệ để hàng hóa trong kho, két sắt có bánh, bên ngoài két được dán giấy niêm phong. B đi đến cửa hậu để tìm lối đi ra nhưng do cửa bị khóa nên quay ra vị trí để xe máy theo đường cũ rồi lấy các công cụ gồm 02 cờ lê, búa đinh, đục rồi đi theo đường cũ vào vị trí cửa hậu ở tầng trệt để phá khóa cửa nhưng không được, B quay lại bàn làm việc trong kho lục tìm chìa khóa và đi ra mở được cửa hậu, sau đó B đẩy két sắt ra cửa hậu phía sau, dùng tay vần, lăn két sắt qua bậc thềm cửa ra bên ngoài khu vực đường hẻm bên hông của cửa hàng, đẩy két sắt ra vị trí khu vực đất trống nơi cất giấu xe máy và dùng búa đinh, đục phá két sắt khoảng 01 tiếng 30 phút thì bung được cánh cửa két. Bên trong két có nhiều cọc tiền với nhiều mệnh giá khác nhau, B kéo khóa áo khoác đang mặc trên người xuồng, lấy toàn bộ số tiền trong két bỏ vào bên trong người rồi kéo áo khoác lên, sau đó bỏ toàn bộ công cụ vào cốp xe máy và lên xe đi về phòng trọ, khi đi nganh qua khu vực hồ đập dứa thuộc địa bàn xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, B dừng xe lấy đục trong cốp xe và tháo găng tay vứt xuống hồ đập dứa, sau đó đi về phòng trọ, bỏ tất cả tiền ra giường và vứt áo khoác vào thùng rác bên ngoài phòng trọ sau đó bỏ các cọc tiền ra phân loại tiền theo các mệnh giá 500 ngàn, 200 ngàn, 100 ngàn, 50 ngàn. Còn phần tiền lẽ mệnh giá một ngàn, hai ngàn, năm ngàn, 10 ngàn và 20 ngàn thì bỏ vào ba lô để tại phòng trọ. Đối với loại tiền mệnh giá 500 ngàn, B chia làm 03 cọc tiền, B bỏ 02 cọc tiền vào 02 bịch nilong loại đựng khẩu trang cất giấu trên cửa sổ gác lửng của phòng trọ, cọc 500 ngàn còn lại B bỏ vào 02 hộp giấy chung với các cọc tiền mệnh giá 200 ngàn, 100 ngàn và 50 ngàn sau đó B đem đến cửa hàng điện máy xanh nơi B làm việc cất giấu bên trong tủ điều khiển bảng hiệu trên áp mái nhà. Trước khi mang tiền đi cất giấu B rút một khoản tiền trong cọc tiền mệnh giá 500 ngàn ra để tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 08h sáng ngày 12/12/2022, nhân viên cửa hàng phát hiện két sắt đựng tiền của cửa hàng bị mất nên trình báo tại Công an thị trấn Liên Nghĩa, Đức Trọng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Phạm Nguyên B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ vào biên bản kiểm quỹ của cửa hàng điện máy xanh thì tổng số tiền mặt có trong két sắt sau khi đã niêm phong là 785.699.000đ (bảy trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng)

Cơ quan điều tra đã thu giữ tại các nơi B cất giấu được tổng số tiền là 762.599.000đ và xác định số tiền B lấy ra tiêu xài cá nhân là 23.100.000đ.

Kết luận định giá số 154/KL-HĐĐG ngày 26/12/2022 xác định giá trị chiếc két sắt là 2.929.000đ.

Tống số tài sản mà Phạm Nguyên B trộm cắp là 788.628.000đ (gồm cả tiền giá trị két sắt)

Ngày 15/12/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huện Đức Trọng đã ra QĐ xử lý vật chứng số 01/QĐ-CSĐT xử lý vật chứng số tiền 762.599.000 đồng bằng hình thức trả lại cho ông Đoàn Trung Thiện là người đại diện cho điện máy xanh.

* Đồ vật, tài liệu tạm giữ: 01 hộp carton màu đen; 01hộp carton màu trắng xanh; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh dương; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh lá; 01 ba lô màu đỏ đen; 01 đôi giày màu đen trắng; 01 quần Jean màu xanh dương; 01 áo khoác màu nâu; 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius BKS 79H1- 19914, SM: 506496671; SK: 640CY966233; 01 điện thoại di động hiệu Iphon XS Max màu trắng; 01 búa bằng kim loại, cán cao su màu đen dài 30 cm; 01 lưỡi cưa sắt, phần đầu được cuốn băng keo đen dài 30 cm; 01 cờ lê vòng miệng 24; 01 cờ lê vòng miệng 22; 01 kìm điện cán cao su màu đỏ đen kích thước 16 cm; 01 két sắt màu xám kích thước 55x40x48 cm bị đục phá hư hỏng; 01 thanh kim loại màu đen có đế kích thức 18 cm;

*Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bà Nguyễn Thị Kim Loan mẹ của Phạm Nguyên B đã bồi thường cho cửa hàng điện máy xanh số tiền 26.718.000đ bao gồm tiền B đã tiêu xài và tiền trị giá chiếc két sắt, ông Đoàn Trung Thiện đại diện cho diện máy xanh đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS-P2 ngày 29/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố Phạm Nguyên B về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Nguyên B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản cáo trạng, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại khai nhận đã nhận lại tài sản, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Nguyên B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Nguyên B từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 12/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự; bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy : 01 hộp carton màu đen; 01hộp carton màu trắng xanh; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh dương; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh lá; 01 ba lô màu đỏ đen; 01 đôi giày màu đen trắng; 01 quần Jean màu xanh dương; 01 áo khoác màu nâu; 01 búa bằng kim loại, cán cao su màu đen dài 30 cm; 01 lưỡi cưa sắt, phần đầu được cuốn băng keo đen dài 30 cm; 01 cờ lê vòng miệng 24; 01 cờ lê vòng miệng 22; 01 kìm điện cán cao su màu đỏ đen kích thước 16 cm; 01 két sắt màu xám kích thước 55x40x48 cm bị đục phá hư hỏng; 01 thanh kim loại màu đen có đế kích thức 18 cm;

Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphon XS Max màu trắng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius BKS 79H1- 19914, SM: 506496671; SK: 640CY966233.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo khó khăn, con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính nên áp dụng khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bản thân là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì đã ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như vậy đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài và giải quyết công việc cá nhân nên vào khoảng 01h sáng ngày 12/12/2022, Phạm Nguyên B đã lén lút đột nhập vào của hàng điện máy xanh địa chỉ số 462 Quốc lộ 20, thị trấn Liên Nghĩa huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng lấy trộm két sắt của cửa hàng mang ra ngoài khu đất trống phía sau cửa hàng đục phá lấy toàn bộ số tiền có trong két sắt là 785.699.000đ và trị giá chiếc két sắt là 2.929.000đ.

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo; lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Nguyên B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, do có nhu cầu cần tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc trông coi, quản lý tài sản để trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật B vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an của địa phương nên cần phải có một mức án tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng gồm: 01 hộp carton màu đen; 01 hộp carton màu trắng xanh; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh dương; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh lá; 01 ba lô màu đỏ đen; 01 đôi giày màu đen trắng; 01 quần Jean màu xanh dương; 01 áo khoác màu nâu; 01 búa bằng kim loại, cán cao su màu đen dài 30 cm; 01 lưỡi cưa sắt, phần đầu được cuốn băng keo đen dài 30 cm; 01 cờ lê vòng miệng 24; 01 cờ lê vòng miệng 22; 01 kìm điện cán cao su màu đỏ đen kích thước 16 cm; 01 két sắt màu xám kích thước 55x40x48 cm bị đục phá hư hỏng; 01 thanh kim loại màu đen có đế kích thức 18 cm;

Trả lại tài sản hợp pháp cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius BKS 79H1- 19914, SM: 506496671; SK: 640CY966233.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyên B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Nguyên B 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp carton màu đen; 01hộp carton màu trắng xanh; 01 hộp túi ni long (dạng túi khẩu trang) màu xanh dương; 01 hộp túi ni long ( dạng túi khẩu trang) màu xanh lá; 01 ba lô máu đỏ đen; 01 đối giày màu đen trắng; 01 quần Jean màu xanh dương; 01 áo khoác màu nâu; 01 búa bằng kim loại, cán cao su màu đen dài 30 cm; 01 lưỡi cưa sắt, phần đầu được cuốn băng keo đen dài 30 cm; 01 cờ lê vòng miệng 24; 01 cờ lê vòng miệng 22; 01 kìm điện cán cao su màu đỏ đen kích thước 16 cm; 01 két sắt màu xám kích thước 55x40x48 cm bị đục phá hư hỏng; 01 thanh kim loại màu đen có đế kích thức 18 cm;

Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, Imei: 357272098239530 được niêm phong trong phong bì có dòng chữ “Đây là điện thoại Iphone XS Max mà tôi sử dụng”, chữ ký họ tên của Đỗ tiến Bách, Phạm Nguyên B và dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius BKS 79H1- 19914, SM: 506496671; SK: 640CY966233.

(Vật chứng hiện đang lưu tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/5/2023).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Nguyên B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ