vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Công T- Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 07-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Lương Công T, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1964, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 6, xã G, huyện V, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T1 (đã chết) và bà Phạm Thị M; đã ly hôn chị Nguyễn Thị Ch và có 02 con; tiền án: Bản án số: 35/2014/HSST ngày 12-8-2014, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt Lương Công T 30 tháng tù về tội Tàng trữ T phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08-10-2016, chưa thi hành khoản tiền phạt bổ sung (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số: 58/2009/HSST ngày 19-10-2009, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt Lương Công T 24 tháng tù về tội Mua bán T phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05-3-2011, đình chỉ thi hành án dân sự theo Quyết định miễn thi hành án dân sự số 13 ngày 26-6-2015 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (đã được xóa án tích); tạm giữ ngày 28-11-2022; tạm giam ngày 02-12-2022; có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Đặng Văn H2; vắng măt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 28-11-2022, Lương Công T đi bộ từ nhà ra Quốc lộ 10 bắt xe buýt đi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi T xuống xe đi bộ vào bên trong đường tàu gặp một người phụ nữ mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroin và được người này đưa cho 01 hộp nhựa hình trụ tròn bên trong có 20 gói giấy chứa ma túy loại Heroin, mua được ma túy T cất giấu vào túi quần rồi đón xe buýt đi về nhà. Về đến nhà T bỏ 02 gói ma túy ra sử dụng hết, còn lại 18 gói ma túy T vẫn để trong 01 hộp nhựa cất giấu ở túi quần phía trước bên T. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày có Đặng Văn H2, sinh năm 1982; trú tại: Thôn 10, xã Việt Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đến nhà T hỏi mua gà tre. Khi T và Hạnh đang nói chuyện thì Tổ công tác Công an huyện Vĩnh Bảo kiểm tra, phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên T của T 01 hộp nhựa bên trong có 18 gói giấy chứa ma túy loại Heroin. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của T 01 ví da màu đen trong có số tiền 2.069.000 đồng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 21/KL-KTHS(MT) ngày 01-12-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “chất bột màu trắng trong 18 gói giấy thu giữ của Lương Công T là ma túy, có khối lượng 0,73 gam, là loại Heroin”.

Tại Cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 17-5-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lương Công T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lương Công T về tội Tàng trữ T phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù; căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì giấy được niêm phong số 21/MT/PC09; trả lại bị cáo 01 (một) ví da màu đen đã cũ, đã qua sử dụng và số tiền 2.069.000 đồng. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Ngày 28-11-2022, tại nhà ở của bị cáo thuộc Thôn 6, xã G, huyện V, thành phố H, Lương Công T đã có hành vi tàng trữ T phép 0,73 gam ma tuý, loại Heroin nhằm mục đích để sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất T phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ T phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án như phần căn cước, lý lịch đã nêu (chưa được xóa án tích) nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, nên cần xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thấy rằng, có thể xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có tài sản (có tiền) nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 (một) bì giấy được niêm phong số 21/MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 (một) ví da màu đen đã cũ, đã qua sử dụng và số tiền 2.069.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, hiện chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lương Công T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ T phép chất ma túy; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28-11-2022.

Căn cứ vào Điều 35, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt tiền bị cáo Lương Công T 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì giấy được niêm phong số 165/MT/PC09; trả lại bị cáo 01 (một) ví da màu đen đã cũ, đã qua sử dụng và số tiền 2.069.000 (Hai triệu không trăm sáu mươi chín nghìn) đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-5-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo và Uỷ nhiệm chi lập ngày 22-5-2023 giữa Công an huyện Vĩnh Bảo và Kho bạc Nhà nước Vĩnh Bảo.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ