vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Tuyên án 20/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cầm Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Cầm Bá Th 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án (20/11/2023). Giao các bị cáo cho y ban nhân dân xã P huyện Ng, tỉnh K, trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo Cầm Bá Th có trách nhiệm phố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Cầm Bá Thiên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cầm Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NG
TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2023/HS-ST
Ngày 20-11-2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH K

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thế Hồi; Ông Phan Văn Đông.

Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh K.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng, tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Chinh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh K xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2023/TLST – HS ngày 01-11-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31 /2023/QĐXXST-HS ngày 08 - 11- 2023 đối với bị cáo:

Cầm Bá Th; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/6/1986 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện Ng, tỉnh K; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 00/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cầm Bá Kh (đã chết) và bà Cầm Thị T; Bị cáo sống chung với Cầm Thị Đ, sinh năm 1984 như vợ chồng (không đăng ký kết hôn, hiện không sống chung) có 02 con chung sinh năm 2008 và năm 2010. Năm 2012 chuyển vào xã P, huyện Ng sinh sống như vợ chồng với Y Gh, sinh năm 1990 có hai người con chung sinh năm 2016 và 2019 hiện nay đang sống tại thôn Đ, xã P, huyện Ng, tỉnh K ; Anh chị em ruột có năm người cùng mẹ khác cha, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời bị hại: Anh Đồng Ngọc Nh; sinh năm 1975; Địa chỉ Thôn 4, xã Đ, huyện Ng, tỉnh K. (Có mặt).

- Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Chị Phùng Thị B, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn I, xã P, huyện Ng, tỉnh K (Có đơn xin xét xử vắng mặt). + Anh A Tr, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn I, xã P, huyện Ng, tỉnh K; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 16/4/2023, Cầm Bá Th do đã hết tiền tiêu và sinh hoạt nên đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Th lấy kìm cắt và cờ lê ở nhà mình cất giấu vào trong người rồi mượn xe mô tô của A Tr (em vợ Th, cùng trú tại thôn Đ, xã P, không xác định được biển kiểm soát) đi một mình đến trại nuôi heo của ông Đồng Ngọc Nh nhằm mục đích để trộm cắp tài sản vì Th biết ở khu chứa phân đặt một máy bơm hút phân có giá trị nên dự định sẽ trộm cắp máy bơm trên. Th điều khiển xe đến bên hông cạnh hàng rào trang trại nuôi heo rồi dừng xe ở đây và quan sát xung quanh thấy không có người nên đã lén lút nhấc lưới kẽm gai chui vào bên trong trang trại. Th tiếp tục đi đến khu hầm chứa phân rồi gỡ móc lưới B40 vào bên trong. Tại đây, Th thấy máy bơm đang được treo bằng dây xích sắt nên đã cầm dây xích rồi kéo máy bơm lên. Sau đó, Th dùng kìm cắt dây kẽm cột máy bơm và dùng cờ lê tháo ốc nối giữa máy bơm với ống nhựa để lấy trộm máy bơm. Sau khi tháo rời được máy bơm, Th vác máy bơm lên vai tẩu thoát ra ngoài bằng đường cũ, rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà cất giấu máy bơm đã trộm cắp được và dụng cụ sử dụng đi trộm cắp vào trong gian nhà bếp rồi đem trả xe mô tô lại cho A Tr.

Đến ngày 24/04/2023, Thiên mang máy bơm qua nhà chị Phùng Thị B ở thôn I, xã P, huyện Ng và nói với chị B là đi làm thuê ở trại nuôi heo nhưng chủ kẹt tiền nên dùng máy bơm cũ để trả công, Th không có nhu cầu sử dụng nên muốn bán lại để lấy tiền sắm đồ dùng đi làm và nhờ chị B bán hộ Th máy bơm thì chị B đồng ý rồi nói Th để máy bơm ở lại khi nào bán được sẽ đưa tiền cho Th, tuy nhiên vẫn chưa bán được, ngày 16/6/2023 Công an xã Đ đã tạm giữ máy bơm trên tại nhà chị Phùng Thị B.

Bản kết luận định giá số: 388/KL-HĐĐG ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Ng đối với máy bơm màu đen nhãn hiệu TSURUMI PUMP, trên thân máy có chữ No B11045311, Modd 80B21.5 Made in Japan bị mất trộm vào ngày 16/4/2023 có giá trị là: 8.912.484đ (tám triệu chín trăm mười hai ngàn bốn trăm tám mươi bốn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 31/CT- VKSHS ngày 31 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng đã truy tố Cầm Bá Th về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ „thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” "Là lao động chính trong gia đình”, có xác nhận của chính quyền địa phương, theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án. buộc bị cáo phải nộp án phí; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Tại phiên tòa bị cáo Cầm Bá Th thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và nhất trí với bản kết luận định giá tài sản số 388/KL-HĐĐG ngày 11 tháng 8 năm 2023 của hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Ng, có tổng giá trị tài sản trộm cắp là 8.912.484đ (tám triệu chín trăm mười hai ngàn bốn trăm tám mươi bốn đồng).

- Bị hại là anh Đồng Ngọc Nhượng khai tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa: Các tình tiết, nội dung vụ án đúng như cáo trạng đã truy tố. Về trách nhiệm dân sự: Tôi đã nhận lại máy bơm nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Lời khai tại hồ sơ vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phùng Thị B như sau: Vào ngày 24/4/2023 Thiên có đem một máy bơm nhãn hiệu TSURUMI PUMP màu đen qua nhà tôi và nhờ tôi bán hộ, thì tôi đồng ý và nói lúc nào bán được sẽ đem tiền cho Th. Khi đem máy bơm qua nhà tôi thì Th có nói là đi làm thuê ở trại nuôi heo nhưng chủ kẹt tiền nên đưa máy bơm cũ để trả công, Th không cần dùng tới và đang cần tiền nên nhờ tôi bán hộ. Tôi không biết việc Th trộm cắp tài sản trên.

- Lời khai tại hồ sơ vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh A Tri đúng như cáo trạng đã miêu tả.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra, xin lỗi người bị hại, xin hứa không bao giờ phạm tội nữa, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Cầm Bá Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cho thấy vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/04/2023, Cầm Bá Th đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 máy bơm màu đen nhãn hiệu TSURUMI PUMP, trên thân máy có chữ No B11045311, Modd 80B21.5 Made in Japan tại trang trại nuôi heo của ông Đồng Ngọc Nh ở thôn 4, xã Đ, huyện Ng. Sau khi trộm cắp được tài sản Th mang máy bơm nhờ chị Phùng Thị B bán giúp nhưng chưa bán được thì bị cơ quan Công an tạm giữ. Tài sản mà Cầm Bá Th trộm cắp được có giá trị là 8.912.484 đ (tám triệu chín trăm mười hai ngàn bốn trăm tám mươi bốn đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thể hiện lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của anh Đồng Ngọc Nh. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ ít nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Chính vì vậy bị cáo bị viện kiểm sát nhân dân huyện Ng, tỉnh K truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình tham gia tố tụng từ điều tra – truy tố – xét xử, bị cáo thể hiện “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, " bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng". bị cáo là lao động chính trong gia đình, có xác nhận của chính quyền địa phương.Vì vậy cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đồi, bổ sung năm 2017.

Về áp dụng hình phạt: Căn cứ vào động cơ, mục đích, hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo, mức độ phạm tội. Xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi, nơi cư trú của bị cáo có địa chỉ rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của viện kiểm sát về điều luật và mức hình phạt là hợp lý, nên áp dung khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo.

Những vấn đề khác: Đối với chị Phùng Thị B được bị cáo Th nhờ bán máy bơm, khi nhờ thì Th nói dối là do chủ trả công, chị B không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, không được hưởng lợi từ việc bán tài sản. Đối với việc bị cáo Th mượn xe mô tô của A Tr để thực hiện hành vi trộm cắp, Th không có xe đi lại và thường xuyên mượn xe mô tô của A Tr nên A Tr không biết mục đích mượn xe đi trộm cắp tài sản của Th. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ng xét thấy không có căn cứ để xử lý đối với Phùng Thị B và A Tr là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ngọc Hồi đã trả lại cho chủ sở hữu máy bơm màu đen nhãn hiệu TSURUMI PUMP, trên thân máy có chữ No B11045311, Modd 80B21.5 Made in Japan là đúng quy định của pháp luật.

Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 (một) kìm cắt bằng kim loại có cán màu xanh lá cây, thân kìm có chữ EERR YOUN, đã qua sử dụng; 01 (một) cờ lê bằng kim loại trên thân có chữ CHROME VANADIHM, đã qua sử dụng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Cầm Bá Th nghề nghiệp làm nông thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đồi, bổ sung năm 2017);

Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 106; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23, và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1.Tuyên bố bị cáo Cầm Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Cầm Bá Th 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án (20/11/2023).

Giao các bị cáo cho y ban nhân dân xã P huyện Ng, tỉnh K, trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo Cầm Bá Th có trách nhiệm phối hợp với y ban nhân dân xã P huyện Ng, tỉnh K , trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 (một) kìm cắt bằng kim loại có cán màu xanh lá cây, thân kìm có chữ EERR YOUN, đã qua sử dụng; 01 (một) cờ lê bằng kim loại trên thân có chữ CHROME VANADIHM, đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2023 giữa Công an huyện Ng và chi cục thi hành án dân sự huyện Ng.

3.Về án phí: Buộc bị cáo Cầm Bá Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20-11-2023), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ