vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn O - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/ HS-ST
Ngày: 12 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.

-Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Khen.

2. Ông Trần Văn Kiệt.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Lê Tây Bắc– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 29/ 2023/ TLST- HS ngày 15 tháng 03 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 đối với:

-Bị cáo: Phạm Văn O, sinh năm:1960. Tên gọi khác: Không. Tại: Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp 1, xã H, huyện Đ, tỉnh T; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T, sinh năm: 1927(Đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1929 ( Đã chết); Vợ: Đoàn Thị Thu N, sinh năm: 1960; Anh chị em ruột: Có 07 người, lớn nhất sinh năm: 1952, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Ngày 29/12/2022 có hành vi gây thương tích cho người khác, bị tạm giữ ngày 30/12/2022 đến hết ngày 06/01/2023. Ngày 06/01/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ khởi tố về tội “ Cố ý gây thương tích” được tại ngoại điều tra cho đến nay.

Bị hại: Anh Võ Minh T, sinh năm: 1988 ( Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Minh T, sinh năm: 1988, ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh L bán trái cây tại đường nội bộ khu công nghiệp P thuộc ấp Thạnh Hưng, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long có mâu thuẫn trong việc mua bán với Phạm Văn O. T nhiều lần dùng lời lẽ xúc phạm O.

Ngày 28/12/2022 T dùng đá ném vào tủ bán hàng của O sự việc được O đến Công an xã Hòa Phú trình báo.

Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 29/12/2022 O đang bán thức ăn (súp) tại đường nội bộ khu công nghiệp P thuộc ấp Thạnh Hưng, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, T đến cự cãi dùng lời lẽ xúc phạm O. O dọn hàng lên xe mô tô biển kiểm soát 71B1-511.48 đi về, khi xe chạy được 07 mét T chặn đầu xe của O cự cãi dùng tay phải đánh nhiều cái vào đầu và vai của O thì được chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm: 1989, ấp 8, xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long can ngăn. Sau đó T tiếp tục dùng tay đánh O làm xe mô tô và người O ngã nghiên về bên phải, tiếp tục dùng tay đánh, lúc này O dùng tay phải lấy con dao cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 17cm trong bịch ny lon đang treo bên trái hông xe đâm trúng vào vùng hông bên trái của T rồi bỏ chạy và đến Công an xã Hòa Phú trình báo sự việc. T được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long.

Tang vật thu giữ 01 con dao cán nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 17cm và 01 xe mô tô biển kiểm soát 71B1-511.48.

Ngày 03/01/2023 Võ Minh T có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Phạm Văn O.

Căn cứ luận giám định pháp y về thương tích số 09 ngày 30/01/2023 của của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long kết luận: Võ Minh T bị vết thương khoảng 04cm vùng hông trái cách gai chậu trước trên 03 cm do vật sắc gây nên, đứt hổng tràng xuyên cơ thắt lưng cắm vào cột sống, được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 3,5x 0,5 cm, sẹo vết mổ đường giữa bụng kích thước 22 x 0,2 cm, sẹo dẫn lưu bụng phải kich thước 2 x 0,3 cm, vết thương thuộc vùng nguy hiểm trên cơ thể. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại 48%.

Đối với hành vi của Võ Minh T dùng tay đánh Phạm Văn O Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 6.500.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Giao trả cho Phạm Văn O 01 xe mô tô biển kiểm soát 71B1-511.48. Chuyển 01 con dao cán nhựa màu đen dài 12 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 17 cm cho Cơ quan Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu Phạm Văn O bồi thường số tiền viện phí, tiền công lao động, tiền tổn thất tinh thần tổng số tiền 90.000.000 đồng. Phạm Văn O đã khắc phục bồi thường xong, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Văn O.

Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 15 tháng 03 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Phạm Văn O về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

-Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.

-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn O. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn O phạm tội“ Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn O mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao cán bằng nhựa màu đen dài 12 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn dài 17cm.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có thời gian lo cho vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

.Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Do có mâu thuẫn trong việc mua bán. Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 29/12/2022 tại đường nội bộ khu công nghiệp P, thuộc ấp Thạnh Hưng, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Võ Minh T chặn đầu xe mô tô của Phạm Văn O dùng tay đánh vào người O, do bị đánh O lấy con dao đang treo trên xe mô tô 71B1-511.48 đâm vào người của T gây thương tích 48%.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của Phạm Văn O đã phạm vào tội “ Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người đúng tội.

.Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị hại là người gây sự với bị cáo trước, trước ngày xảy ra sự việc bị hại đã có hành vi dùng đá ném vào tủ bán hàng của bị cáo, sự việc này bị cáo cũng đã trình báo với Công an xã Hòa Phú. Đến ngày hôm sau bị hại lại tiếp tục gây sự với bị cáo, khi bị cáo dọn hàng lên xe bỏ đi bị hại là người chặn đầu xe của bị cáo và có hành vi dùng tay đánh bị cáo. Do bị cáo bị ngã và bị xe đè nên không chạy được, để thoát thân bị cáo đã dùng dao đâm bị hại, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nhất thời, không có chủ ý trước về việc đâm bị hại. Trong vụ án có một phần lỗi của bị hại, nếu bị hại không đánh bị cáo thì bị cáo không dùng dao để đâm bị hại. Do đó Hội đồng xét xử có cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại với số tiền 90.000.000 đồng, sau khi gây án bị cáo đã đến Công an đầu thú, bị cáo là người cao tuổi, thành phần lao động nghèo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phát cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong vụ án có một phần lỗi của bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Đối với con dao là công cụ phạm tội nên tịch thu hủy bỏ.

.Về án phí: Bị cáo là người cao cuổi nên miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn O phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn O 02(Hai) năm 06(Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt, nhưng được trừ vào số ngày tạm giữ từ ngày 30/12/2022 đến ngày 06/01/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu hủy bỏ: 01 con dao cán bằng nhựa màu đen dài 12 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn dài 17cm.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 15/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cứ trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ