vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 09/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Quốc R, Phạm Trung O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Quốc H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Quốc R, Phạm Trung O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG P
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 09-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG P, TỈNH THÁI BÌNH

TPnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Luân.

2. Ông Tống Xuân Tú.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng P tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết X đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 và Quyết X hoãn phiên toà số 09/2023/HSST-QĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Vương Quốc R, sinh ngày 17/12/1995. Nơi cư trú: thôn An Tử, xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng, tPnh phố Hải Ư. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vương Quốc Vững, sinh năm 1954; con bà Nguyễn Thị Gùng, sinh năm 1955; bị cáo là con duy nhất; vợ Trần Thị P, sinh năm 1994; có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/4/2013, bị Công an phường Bưởi, tPnh phố P Nội xử phạt Pnh chính, hình thức “phạt tiền” về Pnh vi gây rối trật tự công cộng (đã nộp tiền phạt).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại NP tạm giữ Công an huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

2. Phạm Trung O, sinh ngày 06/5/1977. Nơi cư trú: thôn An Luận, xã An T, huyện An Lão, tPnh phố Hải Ư. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: lớp 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn Viển (đã chết); con bà Phạm Thị Gấm, sinh năm 1949; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ Trần Mỹ S, sinh năm 1981 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm

1

2001. Tiền sự: Không. Tiền án: Bản án số 15/2007/HS-ST ngày 15/3/2007 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, tPnh phố Hải Ư xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp Pnh xong hình phạt tù, chưa chấp Pnh phần án phí hình sự sơ thẩm). Nhân thân: Bản án số 21/HSST ngày 14/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, tPnh phố Hải Ư xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (đã chấp Pnh xong hình phạt tù và án phí).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại NP tạm giữ Công an huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

+ Bị hại:

- Uỷ ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân O – Chủ tịch.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Vũ Thị S (tên gọi khác Thích Diệu Minh), sinh năm 1993. Nơi cư trú thôn Khám Lường, xã Tân Hòa, huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: Chùa Linh Sơn, thôn Quyết T, xã Bắc Sơn, huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình.

- Uỷ ban nhân dân xã An Ấp, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình Ư1 – Chủ tịch.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1955. Nơi cư trú thôn Xuân Lai, xã An Ấp, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Anh Đào Văn Vịnh, sinh năm 1975 và chị Đào Thị S, sinh năm 1980. Đều nơi cư trú thôn An Ninh, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Chị S uỷ quyền cho anh Vịnh theo giấy uỷ quyền ngày 03/12/2022.

- Anh Bùi Đức D, sinh năm 1988. Nơi cư trú thôn Bình Minh, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lương Quốc A, sinh năm 1979. Nơi cư trú thôn Thiên Kha, xã Tiên Cường, huyện Tiên Lãng, tPnh phố Hải Ư.

- Anh P Quyết T, sinh năm 1988. Nơi cư trú thôn Khúc Giản, xã An T, huyện An Lão, tPnh phố Hải Ư.

- Chị Trần Thị P, sinh năm 1994. Nơi cư trú thôn An Tử, xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng, tPnh phố Hải Ư.

- Anh Phạm Trung L, sinh năm 1974. Nơi cư trú thôn An Luận, xã An T, huyện An Lão, tPnh phố Hải Ư.

+ Người làm chứng:

- Bà Trần Thị X, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn Minh Đức, xã Bắc Sơn, huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình.

2

- Bà Phạm Thị Thu, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Thôn Thăng Long, xã Bắc Sơn, huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình.

(Anh Vịnh, anh D, chị P có mặt; bà S, ông Ư, chị S, anh A, anh T, anh L, bà X, bà Vvắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/10/2022 đến ngày 01/11/2022, Vương Quốc R, Phạm Trung O đã thực hiện các Pnh vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ và huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Tối ngày 20/10/2022, Vương Quốc R một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu sơn trắng, biển kiểm soát 15H1-296.48 đến nP Mạc Văn Chỉnh chơi. Tại đây, Chỉnh và R rủ nhau đi lang thang theo các tuyến đường, mục đích xem có ai sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Khi đi R mang theo 01 chiếc kiếm, 01 chiếc xà cầy, 01 túi giả da màu đen, 01 chiếc kìm thủy lực màu đen, vàng. Đến khoảng 02 giờ ngày 21/10/2022, khi đi đến chùa Linh Sơn ở thôn Quyết T, xã Bắc Sơn, huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình. Quan sát thấy cổng chùa khóa, bên trong tắt điện, không có người trông coi, R dừng và để xe tại cạnh tường bên trái chùa. R và Chỉnh trèo qua tường bao vào trong, R cầm kiếm đứng ngoài Pnh lang cảnh giới, Chỉnh phá khóa cửa vào gian Tam Bảo, phá khóa hòm công đức lấy số tiền 2.600.000 đồng bỏ vào túi du lịch màu trắng - đỏ ở gần đó. Chỉnh tiếp tục mở cửa phía sau gian Tam Bảo lấy 01 loa kéo nhãn hiệu BNIB, màu vàng; 01 chiếc âm ly nhãn hiệu Power Audio màu đen và 01 chiếc micro có dây màu đen mang ra ngoài bằng lối đã trèo vào. Tài sản trộm cắp được R được chia 01 âm ly đem về nP sử dụng, sau đó bán cho một người phụ nữ không quen biết Vmua đồng nát với giá 250.000 đồng và số tiền 1.200.000 đồng, số tiền trên R đã chi tiêu cá nhân hết. Chỉnh cho anh Lương Quốc A là bạn của Chỉnh 01 chiếc loa kéo nhãn hiệu BNIB, các tài sản còn lại Chỉnh quản lý.

Bản kết luận X giá tài sản số 37 ngày 30/11/2022 của Hội đồng X giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hưng P, kết luận: 01 chiếc âm ly, nhãn hiệu Power Audio, màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 3.500.000 đồng; 01 chiếc loa kéo, nhãn hiệu BNIB, màu vàng đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 1.350.000 đồng; 01 chiếc micro có dây đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là 5.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Tối ngày 25/10/2022, R điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu trắng, BKS: 15H1-296.48 đến nP Mạc Văn Chỉnh chơi thì gặp Phạm Trung O là bạn của Chỉnh. Tại đây, R, Chỉnh và O rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Chỉnh chuẩn bị 01 chiếc kiếm, 01 chiếc xà cầy, 01 túi giả da màu đen, 01 chiếc kìm thủy

3

lực màu đen, vàng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, O điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila, màu vàng, BKS: 16P5-3482 chở Chỉnh ngồi sau cầm theo túi đựng kìm thủy lực; R cài kiếm, xà cầy vào xe mô tô và điều khiển xe cùng nhau đi theo các tuyến đường, khi đến khu vực thôn Sài, xã An Qúy, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thì phát hiện quán vật liệu xây dựng “Văn Vịnh” của anh Đào Văn Vịnh khóa cửa ngoài. R, O dừng và để xe ở cạnh đường gần đó, quan sát thấy bên trong quán không có người nên Chỉnh nói “O ở ngoài cảnh giới, R cầm kiếm đi theo Chỉnh”. Chỉnh dùng kìm thủy lực cắt ổ khóa cửa và cùng R đi vào trong quán nhìn thấy có 01 chiếc tivi nhãn hiệu LG 43 inch, màu đen để trên tủ gỗ giáp tường. R, dùng tay tháo hết dây và bê tivi đem ra để ở xe, Chỉnh tiếp tục tìm kiếm tài sản trộm cắp. R tiếp tục quay lại quán lấy 01 cuộn dây điện Trần Phú màu vàng loại 2,5 mm còn nguyên vẹn và 01 cuộn dây điện Trần Phú màu vàng loại 1,5 mm dài 80 mét bê ra để ở xe. Sau đó, Chỉnh đi ra, đem theo 01 hộp đá cắt Innox Bogo-shin 107 mm, 05 hộp mũi khoan Tocdo và 01 cuộn dây điện Trần Phú màu vàng loại 2,5mm còn nguyên vẹn. Sau đó, cả nhóm chở các tài sản trộm cắp được đi về.

Bản kết luận X giá tài sản số 47 ngày 02/12/2022 của Hội đồng X giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳnh Phụ, kết luận: 01 chiếc tivi nhãn hiệu LG 43 inch, màu đen tại thời điểm bị xâm hại có giá trị là: 2.166.667 đồng; 01 hộp đá cắt Innox Bogo-shin 107 mm, màu xanh dương, kích thước (11x11x16) cm tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 310.000 đồng; 05 hộp mũi khoan Tocdo 6 mm, hộp màu đen, mũi khoan màu đỏ tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 190.000 đồng; 02 cuộn dây điện Trần Phú 2,5 mm, dài 100 mét, màu vàng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 1.550.000 đồng; 01 cuộn dây điện Trần Phú 1,5 mm, dài 80 mét, màu vàng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 916.067 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là 5.133.334 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 26/10/2022, trên đường chở tài sản đã trộm cắp được về nP, Chỉnh nói vói R và O “còn sớm, tiếp tục đi trộm cắp tài sản” R và O đồng ý nên cả ba bị cáo đã cất giấu các tài sản vừa trộm cắp được ở cạnh đường giáp cánh đồng xã An Quý, huyện Quỳnh Phụ và điều khiển xe chở nhau đi trên đường tìm tài sản để tiếp tục trộm cắp. Khi đi đến thôn Bình Minh, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát hiện quán đồ câu “Thiên O” của anh Bùi Đức D đóng cửa, khóa ngoài. Biết bên trong quán không có người trông coi nên R và O dừng xe để ở cạnh đường gần đó O ở ngoài cảnh giới, Chỉnh dùng kìm thủy lực cắt ổ khóa cửa quán, R cầm kiếm đi cùng Chỉnh vào trong quán lấy trộm 02 cần câu màu cam, 06 cần câu màu vàng - cam, 06 cần câu màu xanh - tím - đen, 05 cần câu màu đỏ - vàng - đen, 03 gác cần và 04 hộp chứa cần câu đem ra xe chở đến nơi cất dấu tài sản trộm cắp của nP anh Vịnh trước đó và đem toàn bộ tài sản đã trộm cắp được về nP Chỉnh. Sáng ngày 26/10/2022, O và R chở 01 cuộn dây điện còn nguyên vẹn nhãn hiệu Trần Phú, màu vàng, loại 2,5 mm; 01 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú màu

4

vàng, loại 1,5 mm dài 80 m và 01 túi đựng cần bên trong có 06 cần câu, 01 gác cần về nP O để tìm nơi bán. Chỉnh đã bán chiếc tivi cho anh P Quyết T với giá 2.600.000 đồng. Lúc bán R, Chỉnh và O không nói cho anh T biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Sáng ngày 26/10/2022 O một mình điều khiển xe mô tô đem 02 cuộn dây điện đi bán cho 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể tại khu vực thị trấn An Lão được số tiền 800.000 đồng. O được chia 1.250.000 đồng, số còn lại 2.150.000 đồng Chỉnh và R cùng nhau sử dụng chung hết. Số tài sản còn lại gồm (cần câu, gác cần và túi đựng cần câu không bán được nên R lấy 01 cần câu màu cam đem về nP sử dụng, 01 cần câu màu xanh đem cho anh T sử dụng. R không nói cho anh T biết cần câu trên do trộm cắp mà có. Quá trình sử dụng, chiếc cần câu trên anh T đã làm mất.

Bản kết luận X giá tài sản số 52 ngày 21/12/2022 của Hội đồng X giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳnh Phụ, kết luận: 02 cần câu màu cam, loại 6,3 mét, nhãn hiệu HANDING La Văn Cường tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 2.566.667 đồng; 06 cần câu màu vàng - cam, loại 3,6 mét, không nhãn hiệu tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 900.000 đồng; 06 cần câu màu xanh – tím - đen, loại 6,3 mét, không nhãn hiệu tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 900.000 đồng; 03 cây gác cần màu đỏ - đen, loại 2,1 mét, không nhãn hiệu tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 663.333 đồng; 04 hộp đựng cần câu màu nâu - đen, loại 7,2 mét, không nhãn hiệu tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 11.500.000 đồng; 02 cần câu màu đỏ - vàng - đen, loại 5,4 mét, nhãn hiệu FUYANSHAN tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 310.000 đồng; 03 cần câu màu đỏ - vàng - đen, loại 6,3 mét, nhãn hiệu FUYANSHAN tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 406.667 đồng; 02 túi đựng cần câu, kích thước dài 120 cm, rộng 20 cm, cao 20 cm, không nhãn hiệu tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 466.667 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là 17.713.334 đồng.

Vụ thứ tư: Sáng ngày 01/11/2022, R khai điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu trắng, BKS: 15H1-296.48 chở Mạc Văn Chỉnh đi trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Khi đến chùa Thanh Hương, thuộc địa phận thôn Xuân Lai, xã An Ấp, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Quan sát thấy chùa đóng cổng, tắt điện, R và Chỉnh đột nhập vào chùa trộm cắp tài sản. Chỉnh phá khóa cổng và cửa chính, cùng Chỉnh vào trong chùa lấy 02 loa thùng nhãn hiệu Califolia, 01 âm ly nhãn hiệu SYANG SA-555, 02 chiếc micro không dây và 01 đầu Vsóng nhãn hiệu JBL. Sau đó, R điều khiển xe mô tô chở Chỉnh và tài sản vừa trộm cắp được về nP. Tại đây, R được chia 01 âm ly nhãn hiệu SYANG SA-555; 02 chiếc micro không dây và 01 đầu Vsóng nhãn hiệu JBL mang về nP sử dụng.

Bản kết luận X giá tài sản số 48 ngày 02/12/2022 của Hội đồng X giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳnh Phụ, kết luận: 02 chiếc micro không dây; 01 đầu

5

Vsóng nhãn hiệu JBL, màu đen được mua vào tháng 10/2022, đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 966.667 đồng; 01 âm ly nhãn hiệu SYANG SA-555, được mua vào tháng 8 năm 2010 đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 433.333 đồng; 02 loa thùng, nhãn hiệu Califolia, được mua vào tháng 8 năm 2010, đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là: 933.333 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị tPnh tiền là 2.333.333 đồng.

Bản kết luận giám X số 61/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Ư kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Tại thời điểm giám X, Png chữ, chữ số, đóng trên khung xe và thân máy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu sơn trắng, biển kiểm soát 15H1-296.48 không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Chữ, chữ số nguyên thủy đọc được là: Png chữ, chữ số khung: RLHJA3903HY447327; Png chữ, chữ số máy: JA39E-0422485.

Bản kết luận giám X số 62/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Ư kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Tại thời điểm giám X, Png chữ, chữ số, đóng trên khung xe và thân máy xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA, màu sơn vàng, biển kiểm soát 16P5-3482 không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Chữ, chữ số nguyên thủy đọc được là: Png chữ, chữ số khung: RLGKA12GD 9D010822; Png chữ, chữ số máy: VMVTBA - D 010822.

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKSHH ngày 15 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng P đã truy tố các bị cáo: Vương Quốc R, Phạm Trung O về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy X tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Vương Quốc R, Phạm Trung O khai nhận toàn bộ Pnh vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và không bào chữa về Pnh vi phạm tội.

Anh Đào Văn Vịnh trình bày ngoài các tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp của gia đình anh vào tối ngày 25/10/2022 như đã nêu trên, gia đình anh còn mất số tiền 47.000.000 đồng để trong tủ, 10 ổ dây điện và số tiền 200.000 đồng để trên mặt tủ. Đến nay anh đã được nhận lại chiếc Ti vi nhãn hiệu LG 43 inch. Nay anh yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho gia đình anh các tài sản chưa Vhồi được và số tiền 47.200.000 đồng.

Anh Đào Văn D trình bày ngoài các tài sản mà các bị cáo trộm cắp của anh vào tối ngày 25/10/2022 như đã nêu trên, anh còn bị mất cần câu, hộp phao, hộp thẻo, hộp cần câu, túi cần câu, đèn soi phao, túi chuyên dụng đựng cá. Anh yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh bằng hiện vật cùng đặc điểm với đồ vật đã trộm cắp của anh.

Chị Trần Thị P là vợ bị cáo R trình bày chiếc xe máy biển kiểm soát 15H1-296.48 của chị mua của anh Vũ Văn Tùng, sinh năm 1993 ở thôn Hùng Hưng, xã Og Hưng, huyện Tiên Lãng, tPnh phố Hải Ư để làm phương tiện đi lại, khi mua xe có

6

viết giấy mua bán nhưng hiện nay chị đã làm mất. Chị không biết bị cáo R lấy xe để đi trộm cắp tài sản, chị đề nghị được xin lại chiếc xe máy trên.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới do đó đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như tại bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo: Vương Quốc R, Phạm Trung O phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy X tại khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1, điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điểm g, khoản 1 điều 52; điều 17; điều 50; điều 58 và điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vương Quốc R từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giam 02/12/2022. Áp dụng khoản 1, điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điểm g, h, khoản 1, điều 52; điều 17; điều 50; điều 58 và điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Trung O từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giam 02/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Các điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo R, O phải liên đới bồi thường cho anh Đào Văn Vịnh và chị Đào Thị S số tiền 2.966.667 đồng (kỷ phần của các bị cáo: R: 1.483.000 đồng; O: 1.483.000 đồng đã được làm tròn số). Buộc các bị cáo R, O phải liên đới bồi thường cho anh Bùi Đức D số tiền 16.340.000 đồng đã được làm tròn (kỷ phần của các bị cáo: R: 8.215.000 đồng; O: 8.215.000 đồng). 17.714.000 đồng đã được làm tròn (kỷ phần của các bị cáo: R: 8.857.000 đồng; O: 8.857.000 đồng).

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch Vsung quỹ nP nước 01 chiếc cần câu màu da cam, loại 6,3 mét, nhãn hiệu Handing. Trả lại chị Trần Thị P xe mô tô biển kiểm soát 15H1-296.48. Trả lại anh Phạm Trung L xe mô tô biển kiểm soát 16P5-3482. Trả lại bị cáo O 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng. Tịch Vtiêu huỷ 01 chiếc kiếm dài 81cm, cán dài 20 cm quấn băng dính đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, bản rộng 3,5 cm, mũi vát nhọn; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, đã han rỉ, dài 56 cm, thân dạng rãnh xoắn đường kính 3,5 cm, một đầu bẹt, một đầu uốn cong bẹt, tách làm hai; 01 túi vải nhãn hiệu K&K màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 túi giả da màu đen, có quai đeo, nhãn hiệu POLO EAGIE, đã qua sử dụng; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen, da cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm màu đỏ, đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 31cm, cán màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 21cm, cán màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm thủy lực màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu xám, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử quyết X án phí theo quy X của pháp luật.

Các bị cáo R, O không có tranh luận.

Bị hại anh Vịnh tranh luận: Yêu cầu các bị cáo phải phải bồi thường cho gia đình anh các tài sản chưa Vhồi được và số tiền 47.200.000 đồng.

7

Bị hại anh D tranh luận: Yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh bằng hiện vật cùng đặc điểm với đồ vật đã trộm cắp của anh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo R, O đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN X CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về Pnh vi, quyết X tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy X của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về Pnh vi, quyết X của Cơ quan T Pnh tố tụng, người T Pnh tố tụng. Do đó, các Pnh vi, quyết X tố tụng của Cơ quan T Pnh tố tụng, người T Pnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo R, O đều khai nhận: Ngày 25/10/2022 trộm cắp của anh Đào Văn Vịnh và chị Đào Thị S 01 chiếc tivi nhãn hiệu LG 43inch, màu đen, 02 cuộn dây điện Trần Phú màu vàng, loại 2,5mm còn nguyên vẹn, 01 cuộn dây điện Trần Phú màu vàng, loại 1,5mm dài 80m, 01 hộp đá cắt Innox Bogo-shin, 05 hộp mũi khoan Tocdo, tổng giá trị tài sản là 5.133.334 đồng. Ngày 26/10/2022 trộm cắp của anh Bùi Đức D 02 cần câu màu cam, 06 cần câu màu vàng - cam, 06 cần câu màu xanh - tím - đen, 05 cần câu màu đỏ - vàng - đen, 03 gác cần và 04 hộp chứa cần câu, giá trị tài sản là 17.713.334 đồng. Ngoài ra bị cáo R vào các ngày 20/10/2022 trộm cắp tại chùa Linh Sơn số tiền 2.600.000 đồng, 01 loa kéo nhãn hiệu BNIB, màu vàng; 01 chiếc âm ly nhãn hiệu Power Audio màu đen, 01 chiếc micro có dây màu đen, giá trị tài sản là 5.000.000 đồng và ngày 01/11/2022 trộm cắp tại chùa Thanh Hương 02 loa thùng nhãn hiệu Califolia, 01 âm ly nhãn hiệu SYANG SA-555, 02 chiếc micro không dây và 01 đầu Vsóng nhãn hiệu JBL, giá trị tài sản là 2.333.333 đồng.

Lời khai của các bị cáo đều thống nhất, là chứng cứ buộc tội cho nhau, phù hợp với lời khai của những bị hại: Chị Vũ Thị S đại diện theo uỷ quyền của UBND xã Bắc Sơn (bút lục 499 đến 506); ông Nguyễn Văn Ư đại diện theo uỷ quyền của UBND An Ấp (bút lục từ số 524 đến số 529); anh Đào Văn Vịnh, chị Đào Thị S (bút lục từ số 535 đến số 550) và anh Bùi Đức D, (bút lục từ số 560 đến số 563); Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Quốc A (bút lục từ số 564 đến số 567); anh P Quyết T (bút lục từ số 568 đến số 571); chị Trần Thị P (bút lục từ số 572 đến số 575); anh Phạm Trung L (bút lục từ số 576 đến số 577); Lời khai của những người làm chứng bà Trần Thị X, bà Phạm Thị V(bút lục số 507 đến 516). Ngoài ra còn được chứng minh bằng biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu (bút lục số 245

8

đến 248); Biên bản khám xét (bút lục 171, 172, 175, 176, 181, 182); Biên bản xác X hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường (bút lục từ số 85 đến số 98); Bản kết luận X giá tài sản số 37, số 47, số 48, số 52 (bút lục 21, 40, 58, 77, 78); Bản kết luận số 61, số 62, số 181 (bút lục 231, 230, 198, 199). Như vậy có đầy đủ căn cứ kết luận Pnh vi của các bị cáo Vương Quốc R, Phạm Trung O đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy X tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 BLHS: Tội Trộm cắp tài sản.

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

…………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[3] Đánh giá tính chất, hậu quả vụ án thấy rằng: Pnh vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an ninh xã hội, gây tư tưởng hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Trong thời gian ngắn, R đã 04 lần thực hiện Pnh vi “Trộm cắp tài sản” với tổng giá trị tài sản các lần là: 32.780.001 đồng. O đã 02 lần thực hiện Pnh vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị các lần là 22.846.668 đồng. Vì vậy phải có hình phạt nghiêm minh, buộc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất X mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo.

[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Bị cáo R, bị cáo O đã tPnh khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy X tại điểm s, khoản 1, điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo R, bị cáo O đều có bố đẻ được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy X tại khoản 2, điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo R, bị cáo O bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy X tại điểm g, khoản 1, điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo O còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm quy X tại điểm h, khoản 1, điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo R là người khởi xướng, đồng thời là người thực Pnh, tham gia 04 lần trộm cắp tài sản với giá trị tài sản nhiều nhất nên có vai trò thứ nhất. Bị cáo O tham gia 02 lần trộm cắp với giá trị tài sản thấp hơn nên xếp thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất, mức độ tham gia phạm tội để quyết X mức hình phạt tương ứng với từng bị cáo.

[6] Các bị cáo R, O nghề nghiệp và Vnhập không ổn X nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

9

[7] Đối với Mạc Văn Chỉnh, sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng P đã ra Lệnh truy nã. Hết thời hạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng P đã ra Quyết X tách vụ án đối với Pnh vi trộm cắp tài sản của Chỉnh, khi nào bắt được sẽ xử lý là đúng quy X của pháp luật.

[8] Tài sản Vgiữ của Vương Quốc R: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng, biển kiểm soát 15H1-29648; 01 chiếc kiếm dài 81cm, cán dài 20 cm quấn băng dính đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, bản rộng 3,5 cm, mũi vát nhọn; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, đã han rỉ, dài 56 cm, thân dạng rãnh xoắn đường kính 3,5 cm, một đầu bẹt, một đầu uốn cong bẹt, tách làm hai; 01 túi vải nhãn hiệu K&K màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 túi giả da màu đen, có quai đeo, nhãn hiệu POLO EAGIE, đã qua sử dụng; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen, da cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm màu đỏ, đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 31cm, cán màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 21cm, cán màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm thủy lực màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu xám, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng; 01 chiếc cần câu màu da cam, loại 6,3m, nhãn hiệu Handing; 01 đầu Vsóng nhãn hiệu JBL, màu đen, đã qua sử dụng; 01 âm ly nhãn hiệu SUYANG SA-555, đã qua sử dụng; 01 chiếc micro không dây màu da cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc micro không dây màu xanh, đã qua sử dụng. Tài sản Vgiữ của Phạm Trung O: 01 xe máy nhãn hiệu Attila màu vàng, biển kiểm soát 16P5-3482; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng. Vgiữ của anh Lương Quốc A: 01 loa kéo kích thước (20 x 30 x 40) cm, nhãn hiệu BNIB, màu vàng, đã qua sử dụng. Vgiữ của anh P Quyết T: 01 tivi, nhãn hiệu LG, màu đen, mã 510VNGTODJ35, 43 Inch, đã qua sử dụng. Ngày 11/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng P đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đào Văn Vịnh 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng; bà Vũ Thị S là đại diện theo uỷ quyền 01 chiếc loa kéo, nhãn hiệu BNIB, màu vàng, đã qua sử dụng; ông Nguyễn Văn Ư là đại diện theo uỷ quyền 01 đầu Vsóng nhãn hiệu JBL, màu đen, 01 âm ly nhãn hiệu SUYANG SA-555, 01 chiếc micro không dây màu da cam và 01 chiếc micro không dây màu xanh đều đã qua sử dụng là phù hợp.

[8.1] Trong quá trình trộm cắp tài sản nêu trên, bị cáo R đã sử dụng chiếc xe máy biển kiểm soát 15H1-29648 của chị Trần Thị P là vợ bị cáo; bị cáo O sử dụng chiếc xe máy biển kiểm soát 16P5-3482 của anh Phạm Trung L là anh trai bị cáo làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác X chị P đã mua chiếc xe máy biển kiểm soát 15H1-29648 để về làm phương tiện đi lại và vẫn chưa làm thủ tục sang tên còn anh L đã mua chiếc xe máy biển kiểm soát 16P5-3482 để về làm phương tiện đi lại, chưa làm thủ tục sang tên hiện đã mất đăng ký. Chị P và anh L đều không biết việc các bị cáo đã sử dụng xe máy của mình làm phương tiện đi trộm

10

cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng P không xử lý gì đối với chị P và anh L là có căn cứ và cần trả lại cho chị P và anh L.

[8.2] Đối với 01 chiếc cần câu màu da cam, loại 6,3m, nhãn hiệu Handing đây là tài sản bị trộm cắp của anh Bùi Đức D đã được Vhồi lại nhưng anh D không có yêu cầu được nhận lại nên cần tịch Vsung quỹ nP nước.

[8.3] 01 chiếc kiếm dài 81cm, cán dài 20 cm quấn băng dính đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, bản rộng 3,5 cm, mũi vát nhọn; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, đã han rỉ, dài 56 cm, thân dạng rãnh xoắn đường kính 3,5 cm, một đầu bẹt, một đầu uốn cong bẹt, tách làm hai; 01 túi vải nhãn hiệu K&K màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 túi giả da màu đen, có quai đeo, nhãn hiệu POLO EAGIE, đã qua sử dụng; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen, da cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm màu đỏ, đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 31cm, cán màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 21cm, cán màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm thủy lực màu đen, vàng, đã qua sử dụng đây là tài sản đồ vật Vgiữ của Vương Quốc R liên quan đến Pnh vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch Vtiêu huỷ; 01 chiếc áo khoác màu xám, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng Vcủa bị cáo. Bị cáo không có nhu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch Vtiêu huỷ.

[8.4] Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng đây là tài sản Vgiữ của Phạm Trung O quá trình điều tra và tại phiên toà xác X O không dùng chiếc điện thoại trên để liên lạc đi trộm cắp tài sản nên cần trả lại chiếc điện thoại trên cho bị cáo O.

[9] Quá trình điều tra, anh Đào Văn Vịnh trình bày, ngoài số tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp của gia đình anh vào tối ngày 25/10/2022 như đã nêu trên, gia đình anh còn bị mất số tiền 47.000.000 đồng. Tại phiên toà anh còn trình bày anh còn bị mất thêm 10 ổ dây điện và số tiền 200.000 đồng để trên mặt tủ nhưng anh không có tài liệu, chứng cứ nào để nộp tại phiên toà. Quá trình điều tra xác X hai bị cáo R và O không thực hiện Pnh vi trộm cắp số tiền trên nên không có căn cứ xác X bị cáo R và O trộm cắp tài sản như anh Vịnh đã trình bày là phù hợp với cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng P đã truy tố như tại bản cáo trạng.

[10] Quá trình điều tra, anh Bùi Đức D trình bày, ngoài số tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp của gia đình anh vào tối ngày 25/10/2022 như đã nêu trên, anh còn bị mất cần câu, hộp phao, hộp thẻo, hộp cần câu, túi cần câu, đèn soi phao, túi chuyên dụng đựng cá. Quá trình điều tra và tại phiên toà không xác X bị cáo R và O trộm cắp tài sản như anh D trình bày. Ngoài lời khai của anh D không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.

[11] Đối với việc bị cáo O bán 02 cuộn dây điện do trộm cắp mà có, bị cáo O không biết tên tuổi, địa chỉ người mua, cũng không cho họ biết là tài sản do trộm cắp mà có, vì vậy không có căn cứ để giải quyết trong vụ án này.

11

[12] Đối với việc bị cáo R bán chiếc âm ly trộm cắp được tại chùa Linh Sơn, bị cáo R không biết tên tuổi, địa chỉ người mua, cũng không cho họ biết là tài sản do trộm cắp mà có, vì vậy không có căn cứ để giải quyết trong vụ án này.

[13] Đối với việc anh P Quyết T là người mua chiếc tivi và được cho 01 cần câu do các bị cáo trộm cắp mà có. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác X khi mua tivi và nhận cầu câu trên, anh T không hỏi, các bị cáo cũng không nói nên anh T không biết đó là các tài sản do các bị can trộm cắp mà có. Vì vậy không xử lý đối với anh T về Pnh vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

[14] Đối với anh Lương Quốc A được Mạc Văn Chỉnh cho 01 loa kéo kích thước (20 x 30 x 40) cm, nhãn hiệu BNIB, màu vàng, đã qua sử dụng, anh A không hỏi về nguồn gốc chiếc loa nên anh A không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Vì vậy không xử lý đối với anh A về Pnh vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

[15] Đối với chị Trần Thị P và anh Phạm Trung L. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác X chị P và anh L không biết việc các bị cáo đã sử dụng xe máy của mình làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Vì vậy không xử lý gì đối với chị P và anh L là có căn cứ.

[16] Đối với việc chị S bị mất 01 túi du lịch, mất 02 ổ khóa; anh Vịnh mất 01 ổ khóa, bị hư hỏng nhẹ cánh cửa tủ gỗ; anh D mất 02 ổ khóa; ông Ư mất 02 ổ khóa, những bị hại đều khai nhận là các tài sản đã cũ, không còn giá trị và không đề nghị các bị cáo phải bồi thường các tài sản trên nên cần chấp nhận.

[17] Trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị S, ông Nguyễn Văn Ư đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường, khắc phục hậu quả. Anh P Quyết T không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 2.600.000 đồng đã mua tivi. Bà S, ông Ư, anh T không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết. Anh Đào Văn W yêu cầu các bị cáo phải bồi thường các tài sản chưa Vhồi được theo quy X pháp luật. Anh Bùi Đức D yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh bằng đồ vật cùng đặc điểm với đồ vật đã trộm cắp của anh, các bị cáo đồng ý bồi thường. Xét việc thoả thuận giữa anh và các bị cáo là không có căn cứ để thi Pnh án nên không chấp nhận. Việc anh yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh bằng đồ vật cùng đặc điểm với đồ vật đã trộm cắp của anh nhưng hiện tại đồ vật các bị cáo trộm cắp của anh không Vhồi lại được nên việc anh yêu cầu là không có căn cứ chấp nhận. Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của các bị hại là chính đáng nên cần buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho các bị hại và bồi thường theo kỷ phần tương ứng với phần tài sản các bị cáo chia nhau hưởng lợi sau khi chiếm đoạt. Cụ thể: Buộc các bị cáo R, O phải liên đới bồi thường cho anh Đào Văn Vịnh và chị Đào Thị S số tiền 2.966.667 đồng (kỷ phần của các bị cáo: R: 1.483.000 đồng; O: 1.483.000 đồng đã được làm tròn số). Buộc các bị cáo R, O phải liên đới bồi thường cho anh Bùi Đức D số tiền

12

17.714.000 đồng đã được làm tròn (kỷ phần của các bị cáo: R: 8.857.000 đồng; O: 8.857.000 đồng).

[18] Về xử lý vật chứng: Tịch Vsung quỹ nP nước 01 chiếc cần câu màu da cam, loại 6,3 mét, nhãn hiệu Handing. Trả lại chị Trần Thị P xe mô tô biển kiểm soát 15H1-296.48. Trả lại anh Phạm Trung L xe mô tô biển kiểm soát 16P5-3482. Trả lại bị cáo Phạm Trung O 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng. Tịch Vtiêu huỷ 01 chiếc kiếm dài 81cm, cán dài 20 cm quấn băng dính đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, bản rộng 3,5 cm, mũi vát nhọn; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, đã han rỉ, dài 56 cm, thân dạng rãnh xoắn đường kính 3,5 cm, một đầu bẹt, một đầu uốn cong bẹt, tách làm hai; 01 túi vải nhãn hiệu K&K màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 túi giả da màu đen, có quai đeo, nhãn hiệu POLO EAGIE, đã qua sử dụng; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen, da cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm màu đỏ, đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 31cm, cán màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 21cm, cán màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm thủy lực màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu xám, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong hình sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật X.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT X

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Quốc R, Phạm Trung O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1, điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điểm g, khoản 1, điều 52; điều 17; điều 50; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vương Quốc R 02 năm 06 tháng, thời hạn tù tính ngày bắt tạm giam 02/12/2022.

- Áp dụng khoản 1, điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điểm g, h, khoản 1, điều 52; điều 17; điều 50; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vương Quốc R 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt tạm giam 02/12/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Các điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự:

13

- Buộc các bị cáo R, O phải liên đới bồi thường cho anh Đào Văn Vịnh và chị Đào Thị S số tiền 2.966.667 đồng (kỷ phần của các bị cáo: R: 1.483.000 đồng; O: 1.483.000 đồng đã được làm tròn số).

- Buộc các bị cáo R, O phải liên đới bồi thường cho anh Bùi Đức D số tiền 17.714.000 đồng đã được làm tròn (kỷ phần của các bị cáo: R: 8.857.000 đồng; O: 8.857.000 đồng).

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch Vsung quỹ nP nước 01 chiếc cần câu màu da cam, loại 6,3 mét, nhãn hiệu Handing.

- Trả lại chị Trần Thị P xe mô tô biển kiểm soát 15H1-296.48.

- Trả lại anh Phạm Trung L xe mô tô biển kiểm soát 16P5-3482.

- Trả lại bị cáo Phạm Trung O 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng.

- Tịch Vtiêu huỷ 01 chiếc kiếm dài 81cm, cán dài 20 cm quấn băng dính đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, bản rộng 3,5 cm, mũi vát nhọn; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, đã han rỉ, dài 56 cm, thân dạng rãnh xoắn đường kính 3,5 cm, một đầu bẹt, một đầu uốn cong bẹt, tách làm hai; 01 túi vải nhãn hiệu K&K màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 túi giả da màu đen, có quai đeo, nhãn hiệu POLO EAGIE, đã qua sử dụng; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen, da cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm màu đỏ, đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 31cm, cán màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 21cm, cán màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm thủy lực màu đen, vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu xám, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi Pnh án dân sự huyện Hưng P, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/3/2023).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo Vương Quốc R phải nộp 200.000 Og tiền án phí hình sự sơ thẩm và 517.000 đồng (đã được làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo Phạm Trung O phải nộp 200.000 Og tiền án phí hình sự sơ thẩm và 517.000 đồng (đã được làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết X có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi Pnh án có quyền chủ động ra quyết X thi Pnh án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Pnh án của người được thi Pnh án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi Pnh án) cho đến khi thi Pnh án xong, bên phải thi Pnh án còn phải

14

chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi Pnh án theo mức lãi suất quy X tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy X khác.

Trường hợp bản án, quyết X được thi Pnh theo quy X tại Điều 2 Luật Thi Pnh án dân sự thì người được thi Pnh án dân sự, người phải thi Pnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Pnh án, quyền yêu cầu thi Pnh án, tự nguyện thi Pnh án hoặc bị cưỡng chế thi Pnh án theo quy X tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi Pnh án dân sự; thời hiệu thi Pnh án được thực hiện theo quy X tại Điều 30 Luật Thi Pnh án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Vương Quốc R, Phạm Trung O; bị hại anh Đào Văn W, anh Bùi Đức D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Đào Thị S, đại diện theo uỷ quyền của bị hại bà Vũ Thị S, ông Nguyễn Văn Ư, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lương Quốc A, anh P Quyết T, anh Phạm Trung L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm

Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ