vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Nguyễn Thị H 10 (Mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Kề từ khi án có hiệu lực pháp luật, bị hại anh Nguyễn Công Thành có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thực hiện đầy đủ khoản tiền bồi thường thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hương - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Thị H 10 (Mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 18-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Trường

2. Ông Lê Thanh Miện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H;

Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nữ;

Sinh năm: 1987;

Nơi cư trú: thôn Hoàng Giang, xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do;

Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Con ông: Nguyễn Văn Đỗ, sinh năm 1965 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1968; Chồng: Trần Văn Tuân, sinh năm 1979 (đã ly hôn);

Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012;

Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền sự, nhân thân: Không.

Tiền án: Bản án số 27/2022/HS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2022, chấp hành xong án phí ngày 18/11/2022).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Công Thành, sinh năm 1996 –Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Bái Thượng, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghã vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Khánh, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1996 – Có mặt Địa chỉ: Thôn Sơn Quả 5, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Hoàng Giang, xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; trú tại thôn Hoàng Giang, xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là công nhân may tại xưởng may Thanh Hậu do chị do chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989 địa chỉ ở thôn Khánh, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa làm chủ. Do muốn có tiền để đầu tư tiền ảo trên mạng xã hội nên chiều ngày 26/12/2022, Hương gọi điện thoại cho chị Hậu xin tạm ứng lương với số tiền là 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Do trước đó Hương đã xin tạm ứng tiền lương nhiều lần nên chị Hậu không muốn cho Hương ứng tiền lương nữa. Chị Hậu nói với Hương sẽ hỏi vay người khác cho Hương để Hương có trách nhiệm trả người đó, Hương đồng ý. Do đợi lâu không nhận được tiền vay nên Hương đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền để sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 26/12/2022, Hương điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H9-5804 từ thị trấn Thắng theo quốc lộ 37 đi về hướng xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa. Khi đi qua của hàng sửa chữa điện thoại “Gia Huy mobile” ở thôn Khánh, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa do anh Nguyễn Công Thành, sinh năm 1996; trú tại thôn Bái Thượng, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa làm chủ. Hương quan sát thấy cửa hàng của anh Thành không có khách nên Hương dừng xe lại, đi vào trong cửa hàng của anh Thành mục đích để lừa lấy tài sản. Khi gặp anh Thành, Hương giả vờ hỏi “ở đây có đổi tiền mặt sang tiền tài khoản không” , Thấy Hương hỏi như vậy, anh Thành tưởng Hương có tiền mặt để chuyển đổi thật nên trả lời có và hỏi Hương cần chuyển bao nhiêu tiền; đồng thời anh Thành nói với Hương phí chuyển đổi là 10.000 đồng/1.000.000 đồng. Hương đồng ý và bảo anh Thành chuyển khoản số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng) vào số tài khoản 0731000852463 của mình tên NGUYEN THI HUONG mở tại ngân hàng Vietcombank. Sau khi tài khoản của Hương nhận được tiền từ anh Thành chuyển đến, Hương sử dụng điện thoại di động của mình mở ứng dụng FXPRO rồi đăng nhập vào tài khoản của Hương và chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào số tài khoản 0901000131898 tại ngân hàng Vietcombank mang tên VU DUC TAM và 700.000 đồng vào số tài khoản 1028833331 tại ngân hàng Vietcombank mang tên TRAN THI HUYNH NHU với mục đích đầu tư tiền ảo. Đợi một lúc không thấy Hương trả tiền mặt như thỏa thuận nên anh Thành đã đòi tiền Hương, Hương nói dối anh Thành là quên ví ở nhà và hẹn đến 17 giờ cùng ngày thì chồng Hương sẽ mang tiền đến trả. Sau đó, Hương giả vờ sử dụng điện thoại của mình gọi điện thoại cho chồng nhưng trên thực tế Hương không gọi cho ai nhằm kéo dài thời gian, đợi số tiền ảo đầu tư nếu sinh lời thì sẽ được hoàn trả vào tài khoản thì Hương sẽ trả cho anh Thành.

Cũng trong thời gian này, tài khoản số 109874110610 của Hương mở tại ngân hàng Viettinbank nhận được số tiền 3.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1996; trú tại thôn Sơn Quả 5, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa chuyển đến (chị Hường là nhân viên của xưởng may Thanh Hậu, là người được chị Hậu nhờ chuyển tiền cho Hương để Hương phải có trách nhiệm trả chị Hường), sau đó, Hương chuyển số tiền 3.000.000 đồng nhận được từ chị Hường sang số tài khoản 0731000852463 của mình tại ngân hàng Vietcombank. Sau khi nhận được số tiền trên, Hương không trả cho anh Thành mà lại tiếp tục chuyển số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) vào số tài khoản 1012668083 tại ngân hàng Vietcombank mang tên DUONG VAN DAT để đầu tư tiền ảo. Tuy nhiên, Hương đã thua hết toàn bộ số tiền đã đầu tư. Đến 20 giờ cùng ngày, anh Thành không thấy Hương trả tiền nên đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa.

Tại Công an xã Lương Phong, Nguyễn Thị H tự nguyện đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân đồng thời giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98H9-5804; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime và 01 ví màu hồng bên trong không có tài sản gì.

Ngày 27/12/2022, Công an xã Lương Phong đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa để điều tra theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H thành khẩn khai báo hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Đối với các số tài khoản: 0901000131898 tại ngân hàng Vietcombank mang tên VU DUC TAM; 1028833331 tại ngân hàng Vietcombank mang tên TRAN THI HUYNH NHU và 1012668083 tại ngân hàng Vietcombank mang tên DUONG VAN DAT. Quá trình xác minh xác định các số tài khoản trên lần lượt là của anh Vũ Đức Tâm, sinh năm 1979 trú tại xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; chị Trần Thị Huỳnh Như, sinh năm 1997 trú tại phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và anh Dương Văn Đạt, sinh năm 1995 trú tại khóm Thành Nhân, thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Anh Vũ Đức Tâm và anh Dương Văn Đạt khai không sử dụng các số tài khoản trên tại ngân hàng, không biết người đang sử dụng các số tài khoản trên cũng như Nguyễn Thị H là ai; không xác định được người có tên là Trần Thị Huỳnh Như có thông tin đăng ký số tài khoản ngân hàng trên hiện đang làm gì, ở đâu nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98H9-5804; 01 ví màu hồng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị H, không liên quan đến hành vi phạm tội; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime là tài sản Hương sử dụng vào việc phạm tội. Hiện nay các tài sản này Cơ quan điều tra đang tạm giữ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Công Thành yêu cầu Hương hoàn trả số tiền 3.700.000 đồng nhưng hiện nay Hương chưa trả; chị Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Thị H1 không yêu cầu gì đối với số tiền 3.000.000 đồng đã cho Hương vay.

Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS -HH ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại tại phiên tòa hôm nay Nguyễn Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Ngày 26/12/2022, tại cửa hàng sửa chữa điện thoại “Gia Huy mobile” ở thôn Khánh, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa; Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại thôn Hoàng Giang, xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Công Thành, sinh năm 1996, trú tại thôn Bái Thượng, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng).

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98H9-5804 bị cáo đã mượn của bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ bị cáo để đi làm hàng ngày, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà Chiền. Còn chiếc ví da mầu hồng không có giá trị bị cáo không nhận lại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H2 không yêu cầu bị cáo trả số tiền đã vay là 3.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Công Thành số tiền là 3.700.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 ví da mầu hồng.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime là tài sản Hương sử dụng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98H9-5804

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H không tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tang vật chứng thu được của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 26/12/2022, tại cửa hàng sửa chữa điện thoại “Gia Huy mobile” ở thôn Khánh, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa; Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại thôn Hoàng Giang, xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Công Thành, sinh năm 1996, trú tại thôn Bái Thượng, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng).

Như vậy đã có đủ cơ sơ để kết luận Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử về tội “Lừa đảo chiểm đoạt tại sản” chưa được xóa án tích.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Làm mất trật tự trị an xã hội, thể hiện sự ngang nhiên coi thường pháp luật, gây hoang mang dao động và bất bình trong quần chúng nhân dân nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm xẩy ra trên địa bàn huyện Hiệp Hòa có biểu hiện gia tăng. Vì vậy cần phải xử nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và góp phần ngăn đe phòng ngừa chung. Nhưng xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, cho nên cũng cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đáng kể để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hương không công ăn việc làm, không có thu nhập cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự

Cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Công Thành số tiền là 3.7000.000 đồng.

Đối với chị Nguyễn Thị H2 không yêu cầu bị cáo trả số tiền đã vay, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 ví da mầu hồng không có giá trị sử dụng, bị cáo không đề nghị được trả lại.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime là tài sản Hương sử dụng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98H9-5804

. Về án phí; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các điều 292; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Xử phạt Nguyễn Thị H 10 (Mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải bồi thường cho anh Nguyễn Công Thành số tiền 3.700.000 đồng.

Kề từ khi án có hiệu lực pháp luật, bị hại anh Nguyễn Công Thành có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thực hiện đầy đủ khoản tiền bồi thường thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Trả cho bà Nguyễn Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Star, biển kiểm soát 98H9-5804.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ví mầu hồng có khóa kéo bằng kim loại màu vàng,

bên trong không có tài sản gì (đã được niêm phong theo quy định).

- Tích thu sung công Nhà nước 01 điện thoại di động nhã hiệu samsung Galaxy J5 Prime, mầu hồng, số IMEI 1: 055079081797345; IMEI 2:355080081797352;

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.

Cỡ chữ