vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 08/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Lê Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 xe đẩy tay bằng gỗ và 02 can nhựa loại … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 08/9/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Tấn Hưng.

Ông Lý Khắc Chung.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thanh T, sinh ngày 18/10/1999; nơi sinh: huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; nơi thường trú: ấp K9, xã KB, huyện KL, tỉnh KG; nơi cư trú: khóm VQ, TTVTT, huyện CP, tỉnh AG; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 1/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Hoàng Thị Bích P; có vợ tên Trần Thị Thúy V và có 02 con, con lớn nhất sinh ngày 03/4/2019, con nhỏ nhất sinh ngày 11/11/2021; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969; nơi cư trú: khóm VT, TTVTT, huyện CP, tỉnh AG. Vắng mặt

- Người làm chứng: Bùi Văn N (PH) (vắng mặt), Nguyễn Văn Q (Giàu) (vắng mặt), Trương Vũ L (vắng mặt), Đặng Thanh H (vắng mặt), Ngô Thanh D (Húa) (vắng mặt), Mã Văn Thành E (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Lê Thanh T sinh năm 1999, nơi cư trú: khóm VQ, TTVTT, huyện CP, tỉnh AG (ĐKHKTT: ấp Kênh 9, Kiên Bình, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang) nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 26/3/2023, T đi bộ đến kho chứa hàng hóa của Nguyễn Văn P thuộc khóm VT, TTVTT, huyện CP quan sát thấy không người trông coi, bên trong có chứa nhiều bia, nên T đi lại nhà Ngô Thanh D (Húa) cách kho hàng của Phát khoảng 500 mét hỏi mượn cây vít, T nói dối là để sửa xe. Sau khi mượn được cây vít T đi trở lại kho chứa hàng của Phát dùng cây vít mở ốc vít khung cửa sổ rồi leo vào bên trong lấy 15 thùng bia SAIGON LAGER, 01 bếp ga hiệu WINFLAME, 01 bình ga hiệu PETROSETCO PETGAS, 01 thùng nước rửa chén hiệu SURF hương tắc, 01 bao gạo 10 kg mang ra bên ngoài, thì T phát hiện 01 xe đẩy bằng gỗ cách đó khoảng 200 mét, nên T lấy xe đẩy để tài sản trộm được lên xe đẩy đi ra hướng quốc lộ 91, thì gặp Bùi Văn N do xe đẩy nặng lên dốc không nổi nên T nhờ N đẩy tiếp, Nghĩa hỏi đồ này ở đâu có, T nói “Xúc xà bần để bán” nghi ngờ trộm cắp nên Nghĩa dùng tay kéo khẩu trang xuống thì nhận ra T nên truy hô lên, T hoảng sợ bỏ trốn. Riêng Phát khi phát hiện bị mất trộm đã đến Công an thị trấn Vĩnh Thạnh Trung trình báo sự việc.

Ngày 29/5/2023, T bị khởi tố điều tra.

Quá trình điều tra, T còn khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 23/3/2023, T cùng một người tên Giá (không rõ họ, địa chỉ) đến khu vực ấp Mỹ Bình, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú lấy trộm 02 can nhựa chứa 55 lít dầu DIESEL rồi mang đến nhà trọ do Phạm Văn Thạnh làm chủ thuộc khóm Vĩnh Thuận, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú gặp Mã Văn Thành E xin để nhờ trước cửa phòng rồi bỏ đi. Sau đó, Thành E đến Công an thị trấn Vĩnh Thạnh Trung trình báo.

Căn cứ Bản kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú, kết luận:

- 15 thùng bia SAIGON LAGER trị giá 3.825.000 đồng.

- 01 bếp ga hiệu WINFLAME trị giá 610.000 đồng.

- 01 bình ga hiệu PETROSETCO PETGAS trị giá 620.000 đồng.

- 01 thùng nước rửa chén hiệu SURF hương tắc trị giá 210.000 đồng.

- 01 bao gạo 10 kg trị giá 100.000 đồng.

- 01 xe đẩy tay bằng gỗ trị giá 370.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là 5.735.000 đồng. (Năm triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Căn cứ Bản kết luận định giá số 34/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú, kết luận:

- 55 lít dầu DIESEL trị giá 1.132.000 đồng.

- 02 can nhựa loại 30 lít trị giá 50.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là 1.182.000 đồng. (Một triệu một trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú thu giữ: 15 thùng bia SAIGON LAGER, 01 bếp ga hiệu WINFLAME, 01 bình ga hiệu PETROSETCO PETGAS, 01 thùng nước rửa chén hiệu SURF hương tắc, 01 bao gạo 10 kg (đã trao trả cho bị hại Nguyễn Văn P theo biên bản ngày 08/4/2023), 55 lít dầu DIESEL, 01 xe đẩy tay bằng gỗ, 02 can nhựa.

Lời khai của bị hại Nguyễn Văn P trình bày phù hợp với nội dung vụ án. Hiện đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường.

Lời khai của người làm chứng Bùi Văn N (Phi Hùng), Nguyễn Văn Q (Giàu), Trương Vũ L, Đặng Thanh H, Ngô Thanh D (Húa), Mã Văn Thành E trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lê Thanh T, khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án; lời khai bị hại, người làm chứng; kết luận định giá tài sản; các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSCP.HS ngày 10/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang thực hiện quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích lời khai của bị cáo, cùng với các tình tiết, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng. Đối với hành vi trộm cắp 55 lít dầu DIESEL, 02 can nhựa loại 30 lít, 01 xe đẩy tay bằng gỗ, qua xác minh hiện chưa xác định được bị hại, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này và sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên không đề nghị xem xét. Đối với người tên Giá (không rõ họ, địa chỉ), bị cáo khai nhận đã cùng bị cáo đi lấy trộm dầu, do chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên không đề nghị xem xét. Xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 xe đẩy tay bằng gỗ và 02 can nhựa. Đối với 55 lít dầu DIESEL hiện đã không còn nên không đề nghị xem xét. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, bị cáo thấy ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về với gia đình làm lại cuộc đời và làm ăn nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện châu Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định pháp luật.

Bị hại và tất cả người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án những người này đã có lời khai và lời khai của họ phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo. Vì vậy, việc bị hại và tất cả người làm chứng vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi của bị cáo thể hiện như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 25/3/2023 bị cáo đi bộ từ nhà ra quốc lộ 91 để đón xe lên thành phố Châu Đốc làm thuê. Khi đi ngang nhà của bị hại Nguyễn Văn P, bị cáo phát hiện cửa sổ tiệm tạp hóa nhà bị hại không khóa cửa nên nảy sinh ý định vào lấy trộm tài sản. Để thực hiện hành vi, bị cáo đến tiệm sửa xe của ông Ngô Thanh D (Húa) cách nhà bị hại khoảng 50m mượn 01 cây vít, khi mượn bị cáo nói dùng để sửa xe. Sau đó bị cáo quay trở lại tiệm tạp hóa của bị hại và dùng cây vít mở ốc vít cửa sổ để vào trong lấy trộm tài sản. Thời điểm bị cáo vào được tiệm tạp hóa của bị hại khoảng 00 giờ 00 phút ngày 26/3/2023, bị cáo vào trong lấy trộm 15 thùng bia SAIGON LAGER, 01 bếp ga hiệu WINFLAME, 01 bình ga hiệu PETROSETCO PETGAS, 01 thùng nước rửa chén hiệu SURF hương tắc, 01 bao gạo 10 kg mang ra bên ngoài và cất giấu tại vườn chuối gần nhà ông P. Để đưa tài sản vừa trộm được đi nơi khác bị cáo đã lấy 01 xe đẩy cách đó khoảng 200m và để 15 thùng bia SAIGON LAGER vừa trộm được lên xe và kéo đi. Do xe nặng không kéo được xe lên dốc nên bị cáo nhờ một người thanh niên kéo phụ. Sau đó hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo bị người thanh niên phát hiện, tri hô, vì sợ bị đánh nên bị cáo bỏ chạy và đón xe lên thành phố Châu Đốc. Ngày 27/3/2023 bị cáo quay về địa phương thì được biết Công an đang tìm bị cáo nên bị cáo đến Công an thị trấn Vĩnh Thạnh Trung đầu thú.

Căn cứ Bản kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú, kết luận tổng trị giá tài sản bị cáo lấy trộm của bị hại Nguyễn Văn P là 5.365.000 đồng (năm triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa đã đủ cơ sở để xác định hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 27/CT-VKSCP.HS ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Tính chất vụ án:

Bị cáo là người đã trưởng thành, khỏe mạnh, nhận thức được hành vi của bản thân và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Lẻ ra, bị cáo nên chọn cho mình một việc làm phù hợp với lứa tuổi để tạo ra thu nhập hợp pháp để tự nuôi sống bản thân, lo cho gia đình và sống có ích cho xã hội. Tuy nhiên, với bản tính lười biếng lao động, thích hưởng thụ mà không phải tốn công sức lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc trông giữ tài sản nên đã lén lúc thực hiện hành vi phạm tội. Khi phát hiện cửa sổ tiệm tạp hóa của bị hại không khóa, bị cáo đã dùng cây vít mở cửa sổ và đột nhập vào nhà bị hại. Mặc dù, tại thời điểm mở cửa sổ bị cáo không biết trong nhà bị hại có hay không có người trông giữ tài sản. Sau khi lấy được tài sản bị cáo đã gắn lại cửa sổ nhà của bị hại nhằm mục đích che giấu hành vi phạm tội của mình. Qua đó, cho thấy sự liều lĩnh, tinh vi và bất chấp vi phạm pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Về hình phạt chính: sau khi phân tích, xem xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện; cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, ngoài ra còn để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với hành vi trộm cắp 55 lít dầu DIESEL, 02 can nhựa loại 30 lít, 01 xe đẩy tay bằng gỗ, qua xác minh hiện chưa xác định được bị hại, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này và sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với người tên Giá (không rõ họ, địa chỉ), bị cáo khai nhận đã cùng bị cáo đi lấy trộm dầu, do chưa làm việc được, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe đẩy tay bằng gỗ và 02 can nhựa loại 30 lít hiện không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 xe đẩy tay bằng gỗ và 02 can nhựa loại 30 lít.

Đối với 55 lít dầu DIESEL đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án: Theo biên bản giải trình của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú thể hiện 55 lít dầu DIESEL hiện không còn vì tính chất bay hơi của dầu. Do 55 lít dầu DIESEL không còn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Lê Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 xe đẩy tay bằng gỗ và 02 can nhựa loại 30 lít. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú).

- Về án phí: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án đuợc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ