- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ M - QUÀNG TUẤN A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cao Thị Hồng Minh
2. Ông Vũ Văn Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hà Trung Hải - Kiểm sát viên.
ơ
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M
Địa chỉ: Đội X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Quàng Tuấn A
Địa chỉ: Số nhà A, tổ dân phố B, phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 22/3/2018. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình hai người không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ khi con chung mới được vài tháng tuổi. Tuy nhiên, ông A vẫn không thay đổi nên hiện bà M đã chuyển ra ngoài ở. Nay bà M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn yêu thương, chia sẻ, quan tâm đến nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giải quyết cho ly hôn.
- Về con chung: Bà M và ông A có 01 con chung là cháu Quàng Nam T - sinh ngày 27/6/2018. Hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng bà M. Bà M có nguyện vọng được nuôi con. Hiện tại bà M đang làm tại Phòng khám đa khoa T tỉnh Điện Biên, thu nhập ổn định từ lương là hơn 5.000.000 đồng/tháng. Do hiện nay bà M không biết ông A đang làm việc ở đâu và có thu nhập không nên bà M xin rút yêu cầu ông A phải cấp dưỡng cho con chung như đơn khởi kiện ban đầu với mức là 2.000.000 đồng/tháng. Cho đến nay bà M không yêu cầu ông A phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà M xin vắng mặt tại phiên tòa.
2. Đối với bị đơn: Ông Quàng Tuấn A không trả lời thông báo thụ lý vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vắng mặt không có lý do tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa.
3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71/BLTTDS. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 72/BLTTDS.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc ly hôn với ông Quàng Tuấn A.
- Về con chung: Giao cháu Quàng Nam T - sinh ngày 27/6/2018 cho bà M chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên hoặc cho đến khi có thay đổi khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc người trực tiếp nuôi con có thể thay đổi nếu các bên có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền xét xử: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án do Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ là Lấy lời khai của đương sự nên thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
- Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 22/3/2018 của UBND nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cùng lời khai của nguyên đơn, có căn cứ xác định: Bà M và ông A có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 22/3/2018 là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng:
Quá trình giải quyết nguyên đơn cho rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân từ khi con chung mới vài tháng tuổi. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn. Tuy nhiên, ông A không có ý kiến trả lời, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa không có lý do. Đây thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình của bị đơn.
Do đó có căn cứ về việc bà M và ông A đã sống ly thân, hiện không còn quan tâm gì đến nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau...) làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện và giải quyết cho bà M được ly hôn với ông A.
Về con chung: Bà M và ông A có một con chung là cháu Quàng Nam T - sinh ngày 27/6/2018, hiện cháu ở cùng bà M. Thu nhập của bà M là hơn 5.000.000 đồng/tháng, đủ để trang trải cuộc sống và nuôi con. Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của bà M là chính đáng và việc giao cháu T hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ cho bà M là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của bà M.
Về cấp dưỡng nuôi con: Việc bà M không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Quàng Tuấn A.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quàng Nam T - sinh ngày 27/6/2018 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Bà M không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002216 ngày 09/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Bà M đã nộp đủ tiền án phí).
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP ĐBP; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã T, huyện Đ; - Chi cục THADS TP ĐBP; - Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |