vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thanh T.

Bà Hoàng Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Anh Đ. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Mỹ L, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 10/12/2019 cho bà Hoàng Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hoàng Thanh T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2023
“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mỳ

Bà Nguyễn Ngọc Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thanh T, sinh năm 1991

Nơi đăng ký thường trú: tổ X ấp Y, xã H, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Trú tại: tổ X, khu phố Y, Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1989

Nơi đăng ký thường trú: tổ X, ấp Y, xã H, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Trú tại: tổ X, khu phố Y, Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

(bà T và ông Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Hoàng Thanh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Anh Đ tự nguyện thương yêu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn ngày 24/05/2012 tại Ủy ban nhân dân Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Trong quá trình chung sống bà và ông Đ hạnh phúc. Đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Bà và ông Đ đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà và ông Đ có 02 con chung cháu Nguyễn Hoàng Mỹ L, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 10/12/2019. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông Đ không có nợ chung.

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Nguyễn Anh Đ trình bày:

Ông và bà T tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu năm 2012. Quá trình chung sống giữa ông và bà T có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nên vợ chồng thường cãi nhau. Ông và bà T có ngồi lại nói chuyên, gia đình hai bên cũng động viên để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý ly hôn vì còn thương hai con còn nhỏ.

Về con chung: Ông và bà T có 02 (hai) con chung cháu Nguyễn Hoàng Mỹ L, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 10/12/2019. Hiện 02 (hai) con chung đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, ông đồng ý giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng. Mỗi người nuôi một con chung nên ông và bà T không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: Ông và bà T không có nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định. Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Bà Hoàng Thanh T trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông Đ có phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau nên vợ chồng không có hạnh phúc. Ông Đ cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, dù ông Đ và bà T có tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, đồng thời bà T và ông Đ đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài. Ông Đ không đồng ý ly hôn nhưng căn cứ lời khai và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông Đ đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thanh T là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông Đ có 02 con chung cháu Nguyễn Hoàng Mỹ L, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 10/12/2019. Ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, ông Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, đồng ý giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng. Xét thấy cháu L và cháu N đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, cháu L có nguyện vọng được sống với bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu L và cháu N cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu nên ông Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông Đ không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Nợ chung bà T và ông Đ trình bày không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Anh Đ hiện đang cư trú tại Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn bà Hoàng Thanh T và bị đơn ông Nguyễn Anh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Đ theo quy định tại khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thanh T và ông Nguyễn Anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24 tháng 5 năm 2012 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ngày 27 tháng 3 năm 2023 nên áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Bà Hoàng Thanh T trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông Đ có phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau nên vợ chồng không có hạnh phúc. Ông Đ cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn. Bà T đã từng nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn vào năm 2020 nhưng sau đó rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Đồng thời bà T và ông Đ đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài. Ông Đ không đồng ý ly hôn nhưng căn cứ lời khai và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông Đ đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà T được ly hôn với ông Đ.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông Đ có 02 (hai) con chung cháu Nguyễn Hoàng Mỹ L, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 10/12/2019. Ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, ông Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, đồng ý giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng. Xét thấy cháu L và cháu N đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, cháu L có nguyện vọng được sống với bà T nên Hội đồng xét xử giao cháu L và cháu N cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp. Bà T không yêu cầu nên ông Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông Đ không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Nợ chung bà T và ông Đ trình bày không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thanh T.

1. Bà Hoàng Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Anh Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Mỹ L, sinh ngày 23/5/2013 và cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 10/12/2019 cho bà Hoàng Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Tạm thời ông Nguyễn Anh Đ không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của ông Nguyễn Anh Đ.

Vì quyền lợi của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Hoàng Thanh T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005048 ngày 21/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp xong án phí.

4. Bà Hoàng Thanh T, ông Nguyễn Anh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

- UBND Thị trấn A, huyện Vĩnh Cửu,

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa tỉnh Đồng Nai (số ĐKKH 264 ngày 24/5/2012)

- VKSND H.Vĩnh Cửu;

- CC.THADS H.Vĩnh Cửu;

(đã ký)

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Tấn Phát

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huy Giáp

Đào Thị Giang

Phạm Phú Tra

Cỡ chữ