vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị Sà V.

Về hôn nhân: Bà Sơn Thị Sà V được quyền ly hôn với ông Thạch Sà P. Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Lin Đ, sinh ngày 03/6/2013 cho bà Sơn Thị Sà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Thạch Sà P không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Thạch Sà P Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vết, Phây"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị Sà V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 25 – 4 – 2023
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

2/ Ông Huỳnh Minh Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 259/2022/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Sơn Thị Sà V; Sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh S. Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S (Bà Sà V vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Ông Thạch Sà P; Sinh năm 19881; Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh S. (Ông Sà P vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Sơn Thị Sà V trình bày:

Bà với ông Thạch Sà P tổ chức lễ cưới vào năm 2012 và cũng trong năm 2012, ông bà đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 13 tháng 01 năm 2012. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống ở nhà cha mẹ ông Sà P ở ấp P, xã T, huyện T, tỉnh S. Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2018 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Sà P không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai người đã không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2018 cho đến nay. Từ khi không còn sống chung với nhau, ông Sà P cũng không hề gặp bà Sà V để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, bà Sà V với ông Sà P có một con chung là Thạch Thị Lin Đ, sinh ngày 03/6/2013. Cháu đang sống với ông bà nội của cháu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nay bà Sơn Thị Sà V yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Thạch Sà P.

- Về con chung: Bà Sà V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Sà P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Sà V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Thạch Sà P không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 259/TB-TLVA ngày 23 tháng 12 năm 2022, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Thạch Sà P nhưng ông Sà P không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Sà V. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông Sà P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Sà P đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Thị Sà V ly hôn với ông Thạch Sà P. Về con chung: Giao con chung cho bà Sơn Thị Sà V trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Thạch Sà P không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Sơn Thị Sà V và ông Thạch Sà P đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà Sà V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, còn ông Sà P mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà Sà V và ông Sà P.

Về nội dung: Bà Sơn Thị Sà V và ông Thạch Sà P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 13 tháng 01 năm 2012 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Sà V và ông Sà P là hợp pháp. Nguyên đơn bà Sà V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Sà P, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Sà P cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét lý do xin ly hôn của bà Sà V, Hội đồng xét xử xét thấy, bà Sà V và ông Sà P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2018 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Sà P không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai người đã không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2018 cho đến nay. Từ khi không còn sống chung với nhau, ông Sà P cũng không hề gặp bà Sà V để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Sơn Thị Sà V yêu cầu được ly hôn với ông Thạch Sà P là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Cháu Thạch Thị Lin Đ, sinh ngày 03/6/2013 đang sống cùng ông bà nội của cháu. Tại Tòa án, cháu Lin Đ có văn bản ghi nguyện vọng là muốn được sống với mẹ nếu cha và mẹ cháu ly hôn. Bà Sà V trình bày do trước đây vợ chồng đi làm nên đã gửi cháu Lin Đ cho ông bà nội chăm sóc. Nay ông bà nội cháu cũng đã lớn tuổi và bà đã thu xếp được công việc nên bà muốn trực tiếp nuôi con chứ không gửi ông bà nội của cháu nữa. Còn ông Sà P hiện có quan hệ với một người phụ nữ khác và thường xuyên đi vắng nhà không trực tiếp nuôi cháu Lin Đ được. Bà Sà V trình bày bà làm công nhân và thu nhập một tháng khoảng 9.000.000 đồng và thu nhập này bà có thể nuôi dưỡng cháu Lin Đ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Thạch Thị Lin Đ cho bà Sơn Thị Sà V nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Sà V không yêu cầu nên ông Sà P không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Sà V trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Sà V trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Sà V yêu cầu nên bà Sà V phải chịu theo luật định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị Sà V.

- Về hôn nhân: Bà Sơn Thị Sà V được quyền ly hôn với ông Thạch Sà P.

- Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Lin Đ, sinh ngày 03/6/2013 cho bà Sơn Thị Sà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Thạch Sà P không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Thạch Sà P

có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Thạch Sà P lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Sơn Thị Sà V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Thạch Sà P. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Sơn Thị Sà V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004229 ngày 06/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà Sơn Thị Sà V đã nộp xong án phí.

- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ