- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung giữa chị Vũ Thị G và anh Phan Thanh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị G được ly hôn anh Phan Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày 22/5/2023 “V/v ly hôn, nuôi con chung giữa chị G và anh H” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Phạm Thị Loan
2.Ông Đinh Thế Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn hôn và nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị G sinh năm 1984
Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện P, tỉnh Thái Bình
- Bị đơn: Anh Phan Thanh H sinh năm 1979
Nơi cư trú: Tổ X, Ấp Y, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
(Tại phiên tòa có mặt chị G; anh H – có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2023, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Thanh H tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 08/8/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Đồng Tháp. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào năm 2019, chị đã tự ý bỏ về Thái Bình sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn, chị xin ly hôn anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Phan Vũ H sinh ngày 05/10/2003, Phan Vũ D sinh ngày 18/01/2008, hiện đang ở với anh H và Phan Vũ Trường S sinh ngày 11/12/2016, hiện đang ở với chị. Ly hôn, con H đã trưởng thành không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, chị nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con S, chị để anh H trực tiếp nuôi dưỡng con D. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hiện tại, chị không có thai nghén gì.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn lựa chọn Tòa án giải quyết ngày 16/02/2023, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt cùng ngày 27/3/2022, bị đơn anh Phan Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận thời gian, điều kiện hoàn cảnh kết hôn thời gian, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian vợ chồng ly thân như chị Vũ Thị G đã trình bày. Nay chị G có đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị G không còn, anh nhất trí ly hôn chị G.
Về con chung: Anh xác nhận anh và chị Vũ Thị G có 03 con chung như chị G đã trình bày là đúng. Ly hôn, con Hà đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, anh nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con Phan Vũ Duy, anh đế chị G trực tiếp nuôi dưỡng con Phan Vũ Trường Sơn. Anh và chị G không pH cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Chị Vũ Thị G khởi kiện ly hôn với anh Phan Thanh H, do anh H là bị đơn cư trú tại Tổ X, ấp Y, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện P là Tòa án giải quyết nên Tòa án nhân dân huyện P, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị G và anh Phan Thanh H là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân xã Bình Hày Tây cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 08/8/2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào năm 2019, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn, chị xin ly hôn anh H. Anh H cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị G không còn, anh nhất trí ly hôn chị G. Tòa án đã ấn định thời gian hòa giải nhưng anh H không có mặt, anh H không có thiện chí hòa giải đoàn tụ, chị G đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, mặt khác thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, vì vậy cần xử cho chị G được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Vũ Thị G và anh Phan Thanh H có 03 con chung là Phan Vũ Hsinh ngày 05/10/2003, Phan Vũ Dsinh ngày 18/01/2008, và Phan Vũ Trường Ssinh ngày 11/12/2016. Ly hôn, con Hà đã trưởng thành, tự lập về kinh tế nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, chị G nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con Sơn, anh H nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con Duy, hai bên không pH cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Xét nguyện vọng nuôi con của anh H, chị G là chính đáng, cháu Duy đang ở với anh H, lại có nguyện vọng ở với anh H, cháu Sơn nhỏ hơn đang ở với chị G nên cần giao con Duy cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Sơn cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không pH cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, đáp ứng được nguyện vọng của con chung và phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình.
Về tài sản chung: Chị Vũ Thị G và anh Phan Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên về tài sản chung Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Vũ Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị G và anh Phan Thanh H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị G được ly hôn anh Phan Thanh H.
2.Về nuôi con chung: Con chung Phan Vũ H sinh ngày 05/10/2003, đã trưởng thành không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Anh Phan Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Vũ Dsinh ngày 18/11/2008. Chị Vũ Thị G trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Vũ Trường S sinh ngày 11/12/2016. Anh H và chị G không không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh H, chị G có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
4.Về án phí: Chị Vũ Thị G phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng chị G đã nộp theo biên lai thu số 0004997 ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được thuyển thành tiền án phí
5.Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị G có mặ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Thanh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện P; - Chi cục thi hành án dân sự h.Quỳnh Phụ; - Nơi ĐKKH: UBND xã B, h.L, tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Duyên (Đã ký) |