vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2015, quyển số 01/2013 đăng ký ngày 06/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).

Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Hoàng Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2015, quyển số 01/2013 đăng ký ngày 06/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày 30-11-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Tuấn;

2. Bà Hoàng Thị Hiệu.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Slỉnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hứa Thùy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 101/2023/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2023/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, đăng ký thường trú tại: Số 262, đường Đ, tổ 15, phường C, thành phố Lào Cai; chỗ ở: Thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1995, cư trú tại: Số 1A, khu M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 02/10/2023, các lời khai sau đó và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn, chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 06/3/2015. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Hoàng Văn P nghiện chất ma tuý, không quan tâm, chăm lo cho gia đình. Năm 2018, chị Nguyễn Thị H viết đơn ly hôn và được hoà giải tại Toà án nên vợ chồng đoàn tụ. Sau đó, chị Nguyễn Thị H và gia đình đã khuyên bảo và đưa anh Hoàng Văn P đi cai nghiện ma tuý. Tuy nhiên, anh Hoàng Văn P chỉ thay đổi được một thời gian ngắn thì tiếp tục nghiện chất ma tuý và ngoại tình với người phụ nữ khác. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nhiều lần anh Hoàng Văn P đánh đập chị Nguyễn Thị H. Từ tháng 6/2023 đến nay, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm gì tới nhau. Chị Nguyễn Thị H xác định, vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn P.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P có 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021. Hiện nay cả 03 con đang sống với chị Nguyễn Thị H tại thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 con chung là là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Hoàng Văn P cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị H làm công việc kinh doanh, buôn bán có thu nhập khoảng 10.000.000 đồng - 15.000.000 đồng/ 1 tháng, có chỗ ở tại nhà chị họ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Chị Nguyễn Thị H cam kết hỗ trợ chị Nguyễn Thị H trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con. Chị Nguyễn Thị H đảm bảo mình đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung. Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P không vay nợ ai. Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H đã thông báo cho anh Hoàng Văn P biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình nhưng anh Hoàng Văn P bảo kệ chị Nguyễn Thị H muốn làm gì thì làm.

Tại biên bản làm việc với bố mẹ đẻ anh Hoàng Văn P là ông Hoàng Văn T và bà Hứa Thị P ngày 07/11/2023, thể hiện: Anh Hoàng Văn P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh biết việc chị Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con nhưng do bận công việc nên không đến Toà án được; đầu năm 2023 anh Hoàng Văn P và chị Nguyễn Thị H phát sinh mâu thuẫn do việc kinh doanh gặp khó khăn. Sau đó, anh Hoàng Văn P đi làm xa và có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Gia đình đã khuyên bảo để vợ chồng anh Hoàng Văn P và chị Nguyễn Thị H đoàn tụ nhưng không được. Khoảng tháng 8/2023, chị Nguyễn Thị H đã đưa 03 con bỏ đi, thỉnh thoảng mới đưa các cháu về thăm ông, bà. Hiện nay, anh Hoàng Văn P sống cùng ông bà tại khu M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 07/11/2023 Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình tiến hành xác minh tại Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, kết quả: Chị Nguyễn Thị H cùng chồng là anh Phạm Văn T, sinh năm 1976 cùng đăng ký tạm trú tại thôn Khòn Quắc I, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 28/11/2023, Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số: 194/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 về Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với anh Hoàng Văn P.

Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn anh Hoàng Văn P không tham gia tố tụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 06/3/2015 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng có mâu thuẫn từ năm 2018 do anh Hoàng Văn P nghiện chất ma tuý và đến năm 2023 thì anh Hoàng Văn P ngoại tình. Từ tháng 6/2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn tình cảm, không quan tâm, yêu thương nhau. Vì vậy, chị Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn P là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn P. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P có 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021. Hiện nay cả 03 con đang sống với chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H có chỗ ở, có việc làm và thu nhập, có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung, không yêu cầu anh Hoàng Văn P cấp dưỡng nuôi con. Anh Hoàng Văn P là đối tượng nghiện ma tuý, biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình nhưng anh Hoàng Văn P không tham gia tố tụng, không có ý kiến về việc nuôi con chung. Để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về mọi mặt cho trẻ em, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi; anh Hoàng Văn P chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu. Anh Hoàng Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề nghị xem xét giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Văn P đã được Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn P cư trú tại Số 1A, khu M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 06/3/2015. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 do anh Hoàng Văn P nghiện chất ma tuý, đến đầu năm 2023 anh Hoàng Văn P ngoại tình và không quan tâm, chăm lo cho gia đình. Từ tháng 6/2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, không ai có hành động hàn gắn tình cảm. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P có 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021 hiện đang sống cùng chị Nguyễn Thị H. Cháu Hoàng Kiều A có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng chị Nguyễn Thị H. Xét thấy, chị Nguyễn Thị H có việc làm, có thu nhập và được họ hàng là chị Nguyễn Thị H cam kết giúp đỡ về chỗ ở và hỗ trợ nuôi con nên chị Nguyễn Thị H đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Hoàng Văn P là đối tượng nghiện chất ma tuý đang được Uỷ ban nhân dân thị trấn L quản lý, không có công việc và thu nhập, không đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về mọi mặt cho trẻ em, cần giao 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn P chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu. Anh Hoàng Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không vay nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2015, quyển số 01/2013 đăng ký ngày 06/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).

2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Hoàng Kiều A sinh ngày 12/9/2015, cháu Hoàng Nguyễn Anh T sinh ngày 25/7/2019 và cháu Hoàng Tố U sinh ngày 02/8/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu. Anh Hoàng Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0005306 ngày 20/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ