vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thảo A được ly hôn với anh Tăng L.

Về con chung: Giao con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018 cho chị Trần Thị Thảo A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Đại L thành niên. Anh Tăng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Tăng Đại L cho anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thảo A - Tăng L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thảo A được ly hôn với anh Tăng L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 6 - 2023
V/v ly hôn và trAh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Phước.

Bà Lê Thị Thanh Nhã.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn và trAh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thảo A, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Tăng L, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp Bình Du B, xã A Thạnh 2, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thảo A trình bày:

Vào ngày 05/01/2017, chị Trần Thị Thảo A và anh Tăng L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018, hiện nay Tăng Đại L sống chung với chị A. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung.

Nay chị A yêu cầu như sau:

1. Về hôn nhân: Chị A yêu cầu được ly hôn với anh Tăng L.

2. Về con chung: Chị A yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018 cho đến khi Đại L thành niên và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi Đại L.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Thảo A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Tăng L: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L, anh L biết sự việc chị A yêu cầu giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn nhưng anh L không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018 cho chị A nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh L không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trAh tụng tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 01/7/2022, chị Trần Thị Thảo A khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Tăng L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn anh Tăng L vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân nhân: Chị Trần Thị Thảo A và anh Tăng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị A và anh L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị A và anh L là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị A và anh L chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống không còn hạnh phúc và vợ chồng không còn sống chung từ tháng 9 năm 2021. Từ khi không sống chung đến nay chị A không có gặp anh L để bàn bạc hàn gắn lại tình cảm.

Xét thấy, chị A không chủ động gặp anh L để hàn gắn tình cảm, hiện nay hôn nhân của chị A và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị A và anh L không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị A yêu cầu được ly hôn với anh L là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quA hệ con chung: Trong thời gian chung sống chị Trần Thị Thảo A và anh Tăng L có một con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018. Hiện nay Đại L đang sống với chị A.

Xét yêu cầu của chị Trần Thị Thảo A được nuôi con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018 cho đến khi thành niên. Hiện nay chị Trần Thị Thảo A đang nuôi dưỡng Tăng Đại L. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018 cho chị Trần Thị Thảo A nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Thảo A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Thảo A xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án hôn nhân và gia đình nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy chị Trần Thị Thảo A chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình. Anh Tăng L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thảo A được ly hôn với anh Tăng L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Tăng Đại L, sinh ngày 29/9/2018 cho chị Trần Thị Thảo A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Đại L thành niên. Anh Tăng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Tăng Đại L cho anh L, không ai được cản trở. Anh Tăng L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Tăng Đại L của chị Trần Thị Thảo A.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Thảo A xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Thảo A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005010 ngày 07/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng như vậy chị Trần Thị Thảo A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; anh Tăng L không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thảo A được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, anh Tăng L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ