- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Th xin ly hôn anh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Hiếu Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật TTDS Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày 18/5/2023 “V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Dũng
2. Bà Lại Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 93/2023/TLST- HNGĐ ngày 08/3/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 17/4/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2023/QĐST- HNGĐ ngày 09/5/2023 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị Hiếu Th, sinh năm 1997 (vắng mặt).
HKTT: ấp 3, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình N, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai bổ sung trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn chị Lý Thị Hiếu Th trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đình N trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu thương yêu nhau trong thời gian gần 01 năm, đến năm 2016 thì tiến tới hôn nhân với nhau, có tổ chức đám cưới theo nghi thức truyền thống và đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là thị trấn L), huyện C, tỉnh Đồng Nai vào ngày 12/3/2016. Đây đều là hôn nhân lần đầu của cả hai người. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng vẫn chung sống cùng nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Th trình bày: do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về chuyện tiền anh N không lo làm ăn, ham chơi gây nợ nần bắt chị phải đưa tiền để trả nợ, nếu chị không đưa thì bị anh N đánh, từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay do cuộc sống hôn nhân của chị và anh N không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Nguyễn Đình A, sinh ngày 18/10/2016. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Từ khi thụ lý Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Đình N, nhưng anh N vẫn vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ.
* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh thì chị Nguyễn Thị Thanh M - là em ruột của anh Nam cho biết: chị M cho rằng, chị sinh sống cùng nhà với vợ chồng chị Th, anh N. Trong quá trình chung sống chị thấy giữa anh N và chị Th phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh nhau, sống với nhau không có hạnh phúc. Nguyên nhân do anh N không lo làm ăn, ham chơi.
* Quan điểm của Viện kiểm sát huyện C:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đều làm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo tố tụng và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn không chấp hành và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo tố tụng nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.
Về nội dung: áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Thvà anh N ly hôn; về con chung: giao cháu A cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời không buộc nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh N; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
Kiến nghị khắc phục: không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng: chị Lý Thị Hiếu Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Đình N, xin nuôi dưỡng con chung nên đây là vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của BLTTDS.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Đình N có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện C.
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Lý Thị Hiếu Th có đơn và yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Đình N đã được Tòa án nhân dân huyện C tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng tại phiên tòa hôm nay anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật TTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N và chị Th là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: chị Lý Thị Hiếu Th và anh Nguyễn Đình N đã tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là thị trấn L), huyện C, tỉnh Đồng Nai vào năm 2016; đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14/2016 ngày 12/03/2016, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Th nhận thấy:
Theo trình bày của chị Th thì cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn về chuyện tiền bạc do anh N không chịu làm ăn, ham chơi. Nay do tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Tuy anh Nam vắng mặt không có lời khai tại Tòa án, nhưng qua lời trình bày của chị Nguyễn Thị Thanh M - là em ruột của anh N thì thấy: giữa anh N và chị Th có xảy ra nhiều mâu thuẫn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã kéo dài thời gian hòa giải cho anh chị nhưng không thành, chị Th vẫn kiên quyết xin ly hôn vì không còn tình cảm với anh N. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 chấp nhận cho chị Th được ly hôn với anh N.
Về con chung: Khi ly hôn chị Th có nguyện vọng được nuôi cháu A, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Qua lời trình bày của chị Ththì thấy hiện tại chị Th có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu A thì thấy nên giao cháu A cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 luật HNGĐ. Nên chấp nhận cho chị Th được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu A.
Về cấp dưỡng nuôi con: do chị Th không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời không buộc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh N.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Thxác định không có, do anh N vắng mặt không có lời khai nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí: căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS thì chị Th phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật HN và GĐ năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Hiếu Th.
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Lý Thị Hiếu Th được ly hôn với anh Nguyễn Đình N.
- Về con chung: giao con chung cháu Nguyễn Đình A, sinh ngày 18/10/2016 cho chị Lý Thị Hiếu Th tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
Tạm thời không buộc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Đình N.
Khi cần thiết chị Th và anh N được quyền yêu cầu xin thay đổi người nuôi dưỡng và việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo đảm cho đến khi trưởng thành và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
- Về án phí: chị Lý Thị Hiếu Th phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng án phí LHST. Chuyển 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp thành tiền án phí (biên lai số 0001861 ngày 28/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Chị Th đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND. tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. C; - Thi hành án dân sự H. C; - Những người tham gia tố tụng; -UBND TT. L; - Lưu án văn; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Lê Thị Khuyên |