vanban.org

Bản án 33/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Công ty J (gọi tắt: JIVF) đối với ông Đỗ Ngọc Thành N.

Buộc ông Đỗ Ngọc Thành N có nghĩa vụ phải trả cho Công ty J số tiền tạm tính đến 22/11/2022 là 76.870.358đ trong đó nợ gốc: 61.763.205đ, lãi: 14.389.161đ; lãi quá hạn: 633.992đ và phí quản lý khoản vay: 84.000đ. Tiếp tục tính lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 61010002687767000 kể từ ngày 23/11… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam JACCS- Đỗ Ngọc Thành Nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Công ty J (gọi tắt: JIVF) đối với ông Đỗ Ngọc Thành N.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/DS-ST
Ngày 27 - 6 - 2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thuận

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-DS ngày 19/5/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2023/QĐXXST-DS ngày 07/6/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty J. Trụ sở: Số nhà A đường B phường C, quận D,

thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông T; chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm: 2000; Địa

chỉ: Số nhà A1 đường B1 phường C1, quận D1, thành phố Đà Nẵng (theo giấy uỷ quyền số 23/2022/UQ-JIVF ngày 12/10/2022 của Tổng Giám đốc và Giấy uỷ quyền số 162/2022/UQ-LM-JIVF ngày 24/11/2022 của Giám đốc điều hành cấp cao Bộ phận Thẩm định và Quản lý Công nợ). (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc Thành N, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Số nhà A2 đường B2 phường C2, quận D2, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cửa hàng Q; Địa chỉ: Số nhà A3 đường B3 phường C3, quận D3, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 03/4/2022, thông qua Hợp đồng tín dụng số 61010002687767000, Công ty J (gọi tắt: JIVF) cho ông N vay 63.600.000đ trong đó số tiền vay 60.000.000đ và số tiền phí bảo hiểm 3.600.000đ. Lãi suất: 3.5080%/tháng; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay: 24 tháng, mỗi tháng thanh toán 3.975.901đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền: 3.976.000đ trong đó nợ gốc: 1.836.795đ; lãi trong hạn: 2.127.205đ; phí quản lý khoản vay: 12.000đ. Từ sau ngày 31/5/2022 đến nay ông N không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho JIVF, dù phía JIVF đã nhiều lần nhắc nhỡ.

Mặc dù đã quá hạn trả nợ nhưng bị đơn ông N không thanh toán, do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền tạm tính đến 22 tháng 11 năm 2022 là 76.870.358đ trong đó nợ gốc: 61.763.205đ, lãi: 14.389.161đ; lãi quá hạn: 633.992đ và phí quản lý khoản vay: 84.000đ yêu cầu trả lãi suất phát sinh theo hợp đồng, kể từ sau ngày 22 tháng 11 năm 2022 cho đến khi trả xong nợ theo Hợp đồng tín dụng số 61010002687767000 ký ngày ngày 03 tháng 4 năm 2022.

* Bị đơn ông Đỗ Ngọc Thành N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông N không có văn bản ghi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án và không liên hệ Tòa án làm việc theo các văn bản tố tụng nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông N. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Đỗ Ngọc Thành N đến tham gia phiên họp và hòa giải theo đúng trình tự của pháp luật nhưng ông N không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cửa hàng Q mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng Cửa hàng Q không có văn bản ghi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án và không liên hệ Tòa án làm việc theo các văn bản tố tụng nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của Cửa hàng Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã kí kết. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Đỗ Ngọc Thành N có hộ khẩu thường trú tại quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng vì vậy Tòa án nhân dân quận Thanh Khê căn cứ vào các Điều 35 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn ông N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cửa hàng Q vắng mặt không lý do nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự này.

Về yêu cầu trả nợ của nguyên đơn đối với bị đơn ông Đỗ Ngọc Thành N:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 03 tháng 4 năm 2022, Công ty J (gọi tắt: JIVF) và ông N đã ký kết hợp đồng cho vay tiêu dùng số số 61010002687767000. JIVF cho ông N vay 63.600.000đ trong đó số tiền vay 60.000.000đ và số tiền phí bảo hiểm 3.600.000đ. Lãi suất: 3.5080%/tháng; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay: 24 tháng, mỗi tháng thanh toán 3.975.901đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông N cũng đã thực hiện nghĩa vụ trả vốn và trả lãi được một phần. Còn lại tiền vốn, lãi ông N hứa hẹn nhiều lần, tuy nhiên đã quá hạn trả nợ nhưng ông N không thanh toán, do đó JIVF khởi kiện yêu cầu ông N trả số tiền tạm tính đến 22/11/2022 là 76.870.358đ và buộc ông N phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 23/11/2022 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký kết với JIVF. Mặc dù không ghi nhận được ý kiến của ông N, tuy nhiên Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và niêm yết nhưng ông N không có ý kiến phản hồi xem như từ bỏ quyền lợi của mình. Qua đó, nhận thấy thực tế ông N có vay của JIVF số tiền trên và còn nợ lại 76.870.358đ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết các hợp đồng tín dụng và các thủ tục vay vốn tại JIVF là hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng cho vay tiêu dùng giữa các bên có lập thành văn bản, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội nên được xem là hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay tiêu dùng số 61010002687767000 ngày 03/4/2022, ông N đã trả được cho nguyên đơn số tiền 3.976.000đ trong đó nợ gốc: 1.836.795đ; lãi trong hạn: 2.127.205đ; phí quản lý khoản vay: 12.000đ. Sau đó, ông N đã không hiện đúng theo quy định đã ký kết trong hợp đồng là đã vi phạm Điều 3 của hợp đồng. Theo bảng chiết tính về vốn và lãi suất mà đại diện JIVF cung cấp thì ông N còn nợ lại Công ty số tiền là 76.870.358đ. Hội đồng xét xử nhận thấy, sự thỏa thuận giữa các bên việc thực hiện hợp đồng thì ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả gốc lãi như thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay, nên JIVF khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Ngọc Thành N trả số tiền số tiền tạm tính đến ngày 22/11/2022 là 76.870.358đ trong đó nợ gốc: 61.763.205đ, lãi: 14.389.161đ; lãi quá hạn: 633.992đ và phí quản lý khoản vay: 84.000đ là phù hợp với sự thỏa thuận của các bên và quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với khoản tiền lãi suất theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là 3,5080%/tháng, cao hơn so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì JIVF là một trong nhưng hình thức tổ chức tín dụng và được điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Do vậy, giữa JIVF và ông N thỏa thuận mức lãi theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty J được chấp nhận nên JIVF không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông N phải chịu 5% án phí đối với số tiền mà JIVF yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Công ty J (gọi tắt: JIVF) đối với ông Đỗ Ngọc Thành N.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Đỗ Ngọc Thành N có nghĩa vụ phải trả cho Công ty J số tiền tạm tính đến 22/11/2022 là 76.870.358đ trong đó nợ gốc: 61.763.205đ, lãi: 14.389.161đ; lãi quá hạn: 633.992đ và phí quản lý khoản vay: 84.000đ.

Tiếp tục tính lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 61010002687767000 kể từ ngày 23/11/2022 theo mức lãi suất thỏa thuận đã ký kết với JIVF tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán hết tất cả mọi khoản nợ

2. Án phí dân sự sơ thẩm: 3.943.518đ (Ba triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm mười tám đồng) ông Đỗ Ngọc Thành N phải chịu.

Hoàn trả số tiền 1.922.000đ (Một triệu chín trăm hai mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Công ty J đã nộp theo biên lai thu số 0008743 ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ