- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1, chi nhánh C đại diện) đối với bị đơn bà Nguyễn Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 33/2023/DS-ST Ngày: 29-9-2023 “V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản bằng tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lương Thị Hoàng Kim; bà Huỳnh Thị Thanh.
Thư ký phiên tòa: ông Châu Kim Sol – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 96/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1; địa chỉ trụ sở: số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc;
Đại diện theo uỷ quyền: ông Trần Thái H – Giám đốc Ngân hàng N1, chi nhánh C. Địa chỉ: Số A, khóm I, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang theo Quyết định số 2665/QĐ-HĐTV-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N1; Ông Giang Thanh N - Trưởng phòng Kinh doanh tổng hợp của Ngân hàng N1, chi nhánh C theo giấy uỷ quyền ngày 08/6/2023;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Minh T, sinh năm: 1998; nơi cư trú: khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1966; bà Huỳnh Thị Hồng Đ, sinh năm 1970, cùng cư trú: khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Giang Thanh N có mặt xin xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Minh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang M, bà Huỳnh Thị Hồng Đ đều vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 6 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án đại diện Ngân hàng N1, chi nhánh C ông Giang Thanh N trình bày:
Ngày 18/08/2022, bà Nguyễn Minh T có ký hợp đồng vay tại Ngân hàng N1, chi nhánh C theo hợp đồng tín dụng số: 6713-LAV-202291779 để vay số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 9%/năm, mục đích kinh doanh đồ trang trí nội thất, đã thanh toán lãi là 16,061,643 đồng và gốc là 0 đồng;
Theo đó, để đảm bảo hợp đồng vay bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Quang M đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 245/2022/HĐTC-TT ngày 18 tháng 8 năm 2022, số công chứng 745 – quyển số 02/2022TP/CC-SCC-HĐGD tại Văn phòng C1 chứng thực ngày 18 tháng 8 năm 2022, bảo đảm thế chấp tài sản gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BH 180712; diện tích: 2,305.00m2 (mục đích sử dụng đất: đất trồng cây hàng năm khác), số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH02065, do UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày: 25/4/2012;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BH 180711; diện tích: 49.70m2 (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích sàn: 47.08m2, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH02064, do UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày: 25/4/2012.
Về yêu cầu:
Do bà Nguyễn Minh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng cam kết theo hợp đồng tín dụng, nên Ngân hàng yêu cầu bà T trả nợ gốc là 350,000,000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 29/9/2023 (xét xử) là 23.828.767 đồng và tiền lãi phát sinh sau khi xét xử theo hợp đồng.
Đồng thời yêu cầu duy trì tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 245/2022/HĐTC-TT ngày 18 tháng 8 năm 2022, số công chứng 745 – quyển số 02/2022TP/CC-SCC-HĐGD tại Văn phòng C1 chứng thực ngày 18 tháng 8 năm 2022 khi bà T không trả nợ
* Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Nguyễn Minh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang M, bà Huỳnh Thị Hồng Đ đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Tòa án đã tống đạt hợp lệ; niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý, thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt, do đó Toà án không tiến hành được việc mở phiên họp kiểm tra tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về việc có mặt theo triệu tập của Tòa án quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Về hợp đồng tín dụng số 6713-LAV-202291779 ngày 18/08/2022 tại Ngân hàng N1, chi nhánh C với bà Nguyễn Minh T trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận không trái pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên.
+ Về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 245/2022/HĐTC-TT ngày 18 tháng 8 năm 2022, được ký kết để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 6713-LAV-202291779 ngày 18/08/2022, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký thế chấp là phù hợp pháp luật. Vì vậy, cần tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp này để đảm bảo thi hành án cho nguyên đơn.
+ Quá trình giải quyết vụ án bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập và tống đạt đầy đủ, hợp lệ nhưng đều vắng mặt, không có ý kiến đối với phần khởi kiện của nguyên đơn.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng các Điều 299, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Về tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/8/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Bị đơn bà Nguyễn Minh T có nơi cư trú tại khóm T, thị trấn N, huyện T (nay là phường N, thị xã T), tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Giang Thanh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Minh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang M, bà Huỳnh Thị Hồng Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Nguyễn Minh T ký hợp đồng tín dụng số 6713-LAV-202291779 ngày 18/08/2022 với Ngân hàng N1, chi nhánh C vay tiền nhằm mục đích tiêu dùng. Vì vậy, theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản bằng tiền.
Về nội dung:
Xét hợp đồng tín dụng số 6713-LAV-202291779 ngày 18/08/2022 tại Ngân hàng N1, chi nhánh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện và tự thoả thuận của các bên. Về nội dung và hình thức của hợp đồng đều tuân thủ đúng quy định pháp luật và phù hợp theo quy định Điều 13, 18 và Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, và lãi suất áp dụng phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, nên có cơ sở công nhận Hợp đồng này là hợp pháp, từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Về biện pháp giao dịch bảo đảm: Ngày 18/8/2022, ông Nguyễn Quang M và bà Huỳnh Thị Hồng Đ thống nhất ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 245/2022/HĐTC-TT, thế chấp gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BH 180712; diện tích: 2,305.00m2 (mục đích sử dụng đất: đất trồng cây hàng năm khác), số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH02065, do UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày: 25/4/2012, đứng tên Nguyễn Quang M và Huỳnh Thị Hồng Đ, toạ lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BH 180711; diện tích: 49.70m2 (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích sàn: 47.08m2, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH02064, do UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày: 25/4/2012, đứng tên Nguyễn Quang M và Huỳnh Thị Hồng Đ, toạ lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
Xét, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 245/2022/HĐTC-TT ngày 18 tháng 8 năm 2022 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Quang M và bà Huỳnh Thị Hồng Đ được xác lập trên cơ sở đã tự nguyện, tự thỏa thuận; đồng thời các tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp có sự xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh T1 ngày 18/08/2022 tại Trang bổ sung, nên có hiệu lực từ thời điểm giao kết, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 295, 298, 299, 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, có cơ sở tiếp tục xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.
Về nghĩa vụ trả nợ: Theo Bảng kê tính lãi của Ngân hàng N1, chi nhánh T1 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/9/2023) bà Nguyễn Minh T còn nợ tổng số tiền là 373.828.767 đồng, trong đó vốn là 350,000,000 đồng và tiền lãi là 23,828,767 đồng (tiền lãi trong hạn 21.671.233 đồng và tiền lãi quá hạn 2.157.534 đồng).
Tại điểm c khoản 1 Điều 8 của hợp đồng tín dụng số 6713-LAV-202291779 ngày 18/08/2022 có nêu: “Xem xét quyết định tạm ngừng cho vay, chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn trong các trường hợp nêu tại Điều 6 Hợp đồng này.”
Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Do bà T đã vi phạm thỏa thuận nên có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1, chi nhánh C khoản nợ này và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng sau khi xét xử đến khi thanh toán xong nợ gốc là phù hợp.
Theo ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo giá ngạch.
Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ là 1.000.000 đồng, do nguyên đơn tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 299, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điều 147, 157, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1, chi nhánh C đại diện) đối với bị đơn bà Nguyễn Minh T.
Buộc bà Nguyễn Minh T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1, chi nhánh C đại diện) tổng số tiền vốn, lãi là 373.828.767 đồng, trong đó vốn là 350,000,000 đồng và tiền lãi là 23,828,767 đồng (tiền lãi trong hạn 21.671.233 đồng và tiền lãi quá hạn 2.157.534 đồng) và tiền lãi phát sinh sau khi xét xử đến khi hoàn tất việc thanh toán.
2. Xử lý tài sản thế chấp diện tích 2,305.00m2 (mục đích sử dụng đất: đất trồng cây hàng năm khác), số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH02065, do UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày: 25/4/2012 và diện tích 49.70m2 (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích sàn: 47.08m2, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH02064, do UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày: 25/4/2012, cùng đứng tên Nguyễn Quang M, Huỳnh Thị Hồng Đ, toạ lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 245/2022/HĐTC-TT ngày 18 tháng 8 năm 2022 để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Minh T phải chịu 18.691.000 đồng (mười tám triệu, sáu trăm, chín mươi mốt ngàn đồng) tiền án phí.
Ngân hàng N1, chi nhánh C được hoàn lại tiền tạm ứng án phí 9.018.000đ (chín triệu, lẻ mười tám ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số TU/2022/0009207 ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án Dân sự thị xã Tịnh Biên.
4. Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Minh T có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1, chi nhánh C đại diện) số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/9/2023) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tx.Tịnh Biên (1); - Chi cục THADS tx. Tịnh Biên (1); - Đương sự (4); - Lưu HS & VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Mỹ |