- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn X.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/DS-ST Ngày 14/9/2023 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Như Quang
2. Bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thái Nam, Cán bộ Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai và điểm cầu thành phần tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai, trực tuyến vụ án dân sự thụ lý số 07/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn X; địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh G. Có mặt.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Thanh Q; địa chỉ: tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đào Văn H và bà Lê Thị H1; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Ia, tỉnh G. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Đỗ Văn X trình bày: Ông với ông Đào Văn H và bà Lê Thị H1 là chỗ quen biết. Năm 2018 ông H và bà H1 có vay tiền trả góp của Ngân hàng T và thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại ElANTRA, số máy G....X, số khung ....C, biển kiểm soát 81XXXX theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số XXXX do Phòng cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh Gia Lai cấp ngày 05/02/2018. Do ông H và bà H1 không có khả năng trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên thoả thuận bán chiếc xe ô tô nói trên cho ông. Ngày 28/11/2018 giữa ông với ông H, bà H1 thoả thuận ký kết hợp đồng mua bán xe ô tô nói trên với giá là 480.000.000đ. Ông trả trước cho ông H, bà H1 số tiền 104.000.000đ, còn lại 376.243.000đ hai bên thống nhất để ông thay mặt ông H, bà H1 trả cho Ngân hàng lấy giấy tờ xe ra rồi thực hiện công chứng hợp đồng theo quy định. Thực hiện các thoả thuận trên, ông H và bà H1 giao chiếc xe ô tô trên cho ông quản lý sử dụng ngay sau ký hợp đồng, ông cũng trả cho ông Hà, bà H1 104.000.000đ. Sau đó ông đến Ngân hàng trả hết số tiền 376.243.000đ và được Ngân hàng tất toán hợp đồng vay, trả lại giấy chứng nhận đăng ký ô tô. Sau khi trả nợ và lấy giấy đăng ký xe từ Ngân hàng, ông liên hệ ông H và bà H1 yêu cầu đến Văn phòng công chứng làm thủ tục công chứng hợp đồng mua bán ô tô để ông đăng ký sở hữu xe theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông H và bà H1 viện lý do đi làm ăn xa không có thời gian về để công chứng hợp đồng. Nay ông khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng mua bán ô tô nói trên giữa ông với ông H, bà H1 để ông được đăng ký quyền sở hữu xe ô tô nói trên theo quy định của pháp luật.
* Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho bị đơn. Tuy nhiên bị đơn không đến Toà án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau: Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 3 Điều 26, Điều 227 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 129 và 480 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; công nhận hợp đồng mua bán xe lập ngày 28 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự; buộc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng mua bán xe ô tô đối với bị đơn. Do vậy đây là vụ án "Tranh chấp hợp đồng" theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa, Toà án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Ngày 28/11/2018 ông Đỗ Văn X với ông Đào Văn H và bà Lê Thị H1 xác lập hợp đồng mua bán xe ô tô. Theo đó ông H và bà H1 bán cho ông Xá xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại ElANTRA, số máy Gxxxxx, số khung CXXXXX, biển kiểm soát 81xxxxx theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số xxxxx do Phòng cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh Gia Lai cấp ngày 05/02/2018 với giá 480.000.000đ. Ông X trả trước cho ông H và bà H1 104.000.000đ, số tiền còn lại 376. 243.000đ ông X có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng T theo hợp đồng vay trả góp số LN xxxxx để lấy giấy đăng ký xe. Như vậy những nội dung thoả thuận của các đương sự như trên là hợp đồng mua bán tài sản quy định tại Điều 480 Bộ luật Dân sự. Thực hiện hợp đồng, ông H và bà H1 đã giao cho chiếc xe ô tô nói trên cho ông X quản lý sử dụng; ông X đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông H, bà H1; ông X cũng thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng và được Ngân hàng giải chấp trả lại giấy đăng ký xe. Như vậy việc giao dịch mua bán xe ô tô nói trên giữa các đương sự đã hoàn thành nên có hiệu lực pháp luật theo quy đinh tại Điều 401 Bộ luật Dân sự.
. Khoản 2 Điều 129 BLDS năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”. Xét hợp đồng mua bán xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại ElANTRA, biển kiểm soát 81XXXx được xác lập giữa các đương sự không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nhưng nguyên đơn đã trả đủ tiền cho bị đơn và bị đơn cũng đã giao xe ô tô cho nguyên đơn sử dụng. Do đó nguyên đơn yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng mua bán xe ô tô nói trên là có căn cứ pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí không có giá ngạch theo quy định của pháp luật là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 227 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 129 và 401 và 480 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn X.
2. Công nhận hợp đồng mua bán xe lập ngày 28 tháng 11 năm 2018 giữa ông Đỗ Văn X với ông Đào Văn H và bà Lê Thị H1 đối với xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại ElANTRA, số máy Gxxxxxx, số khung C XXXXX, biển kiểm soát 81XXXXX theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số XXXX do Phòng cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh Gia Lai cấp ngày 05/02/2018. Các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
3. Ông Đỗ Văn X được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đăng ký sở hữu xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại ElANTRA, số máy GXXXXX, số khung C XXXXX, biển kiểm soát 81XXXXX theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Ông Đào Văn H và bà Lê Thị H1 phải chịu toàn bộ án phí không có giá ngạch là 300.000đ; trả lại cho ông Đỗ Văn X số tiền 300.000đ theo biên lai thu số 0008793 ngày 06/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Toà án tỉnh; - VKSND huyện; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Chí Công |