vanban.org

Bản án 33/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X.

Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I phải trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền nợ gồm: tiền gốc còn phải trả là 375.020.000 đồng, tiền lãi đến 01/6/2022 là 670.832.441 đồng (lãi trong hạn là 8.709.674 đồng, lãi quá hạn là 679.542.115 đồng). Tổng cộng là 1.067.402.321 đồng. Tổng cộng là 1.063.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng và Công ty TP"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/KDTM-ST
Ngày: 01/6/2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nguyên – Thư ký tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 06 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2019/TLST-KDTM ngày 08/01/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST-KDTM ngày 13/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2022/QĐST-KDTM ngày 06/5/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X

Địa chỉ: phường R, quận X, thành phố T.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Thanh H (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Phường Q, Quận K, Thành phố M. (Văn bản ủy quyền số 7480/2021/UQ-PGĐ ngày 18/11/2021).

2. Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I

Địa chỉ: ấp U, xã E, huyện P, Thành phố M.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đồng Tấn P, Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt)

Địa chỉ: phường X, Quận W, Thành phố M

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 10, khu phố 1, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bà Đào Thị Thanh H trình bày:

Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I (sau đây gọi tắt là Công ty) đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP X (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số: DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017. Thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, mục đích vay vốn là bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh: sản xuất quần áo, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 26,8%/năm, điều chỉnh 03 tháng /01 lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Khoản vay này được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của Ông Nguyễn Văn T theo Hợp đồng bảo lãnh số DSA/GVP/17/0080/HDBL ngày 03/5/2017.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng Công ty cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 01/6/2022 của Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017 là 1.067.402.321 đồng gồm nợ gốc 375.020.000 đồng, nợ lãi trong hạn 8.709.674 đồng, nợ lãi quá hạn 679.542.115 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 02/6/2022, Công ty vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

- Trường hợp Công ty không trả nợ được thì Ông Nguyễn Văn T phải thanh toán toàn bộ các khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số DSA/GVP/17/0080/HDBL ngày 03/5/2017.

Bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I vắng mặt, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Nguyễn Văn T vắng mặt, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải và thời hạn xét xử, gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và bị đơn có trụ sở tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 1 Điều 30; điểm b, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Toà án đã triệu tập, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không lý do. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong quá trình tố tụng, do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án để cung cấp lời khai, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và tại phiên tòa bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017 giữa Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I (Công ty) và Ngân hàng có hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực.

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017 giữa Công ty và Ngân hàng, bản sao kê và các tài liệu khác do Ngân hàng cung cấp và lời khai của Ngân hàng thì có cơ sở xác định:

Ngày 03/5/2017, Công ty có vay của Ngân hàng số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, mục đích vay vốn là bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh: sản xuất quần áo, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 26,8%/năm, điều chỉnh 03 tháng /01 lần. Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty đã thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc 124.980.000 đồng và số tiền nợ lãi là 66.966.946 đồng. Công ty còn nợ lại Ngân hàng nợ gốc 375.020.000 đồng, tiền lãi đến 01/6/2022 là 670.832.441 đồng (lãi trong hạn là 8.709.674 đồng, lãi quá hạn là 679.542.115 đồng). Tổng cộng là 1.067.402.321 đồng.

Như vậy, Công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017 nên phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như thỏa thuận.

Từ đó, căn cứ quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận định có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I trả cho Ngân hàng các số tiền sau:

Theo Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017: tiền gốc còn phải trả là 375.020.000 đồng, tiền lãi đến 01/6/2022 là 670.832.441 đồng (lãi trong hạn là 8.709.674 đồng, lãi quá hạn là 679.542.115 đồng). Tổng cộng là 1.067.402.321 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 02/06/2022, Công ty vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

Về trách nhiệm của người bảo lãnh: Hợp đồng bảo lãnh số DSA/GVP/17/0080/HDBL ngày 03/5/2017 được ký giữa bên bảo lãnh là Ông Nguyễn Văn T, bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng. Căn cứ quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 3 của Hợp đồng bảo lãnh thì Ông Nguyễn Văn T đồng ý, bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với bên Ngân hàng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017, văn bản tín dụng khác được ký giữa Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I và bên Ngân hàng (bao gồm cả các khế ước nhận nợ). Vì vậy, căn cứ nội dung thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng bảo lãnh, Điều 339, Điều 342 Bộ luật dân sự, trong trường hợp Công ty không thực thiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng như trên thì Ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn thiếu cho Ngân hàng.

Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 43.898.154 đồng, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 339, Điều 342, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X.

Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I phải trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền nợ gồm: tiền gốc còn phải trả là 375.020.000 đồng, tiền lãi đến 01/6/2022 là 670.832.441 đồng (lãi trong hạn là 8.709.674 đồng, lãi quá hạn là 679.542.115 đồng). Tổng cộng là 1.067.402.321 đồng. Tổng cộng là 1.063.271.789 (Một tỷ không trăm sáu mươi ba triệu hai trăm bảy mươi mốt ngàn bảy trăm tám mươi chín) đồng theo Hợp đồng tín dụng số DSA/GVP/17/0080/HDHM ngày 03/05/2017 giữa Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I và Ngân hàng TMCP X.

Ngoài ra, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 02/6/2022 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ tương ứng nêu trên cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.

Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I không thực thiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ như trên thì Ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn thiếu cho Ngân hàng TMCP X theo Hợp đồng bảo lãnh số DSA/GVP/17/0080/HDBL ngày 03/5/2017 được ký giữa Ông Nguyễn Văn T và Ngân hàng TMCP X.

2/Án phí:

Công ty TNHH Sản xuất Thương mại May mặc I chịu án phí sơ thẩm là 43.898.154 (Bốn mươi ba triệu tám trăm chín mươi tám ngàn một trăm năm mươi bốn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP X số tiền tạm ứng án phí là 10.998.765 (Mười triệu chín trăm chín mươi tám ngàn bảy trăm sáu mươi lăm) đồng, theo biên lai thu số AA/2018/0002025 ngày 17/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 12.

3/ Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ