- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI –––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HSST Ngày 06-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đình Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Minh Đức
2. Bà Phạm Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2022, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2022/TLST – HS ngày 12 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 25-01-2022, đối với bị cáo:
NGUYỄN THỊ KIM PH, sinh năm 1981 tại Gia Lai; nơi ĐKHKTT và chỗ: Số 526/25/6 đường H, Tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1955; có chồng là Trần Kh, sinh năm 1980 và có 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2002 và con nhỏ nhất sinh năm 2012, con lớn sinh năm 2002 chết năm 2019).
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph bị tạm giữ từ ngày 19-6-2021 đến ngày 28-6-2021, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Ngày 23-7-2021, được áp dụng biện pháp bảo lĩnh; hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trần Kh, sinh năm 1980; địa chỉ: 526/25/6 Hùng Vương, Tổ 2,
phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Kim Ph làm nghề buôn bán nông sản ở khu vực cửa khẩu Lệ Thanh, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Khoảng tháng 4/2021, khi buôn bán ở khu vực cửa khẩu Lệ Thanh, Ph có quen biết đối tượng nam giới tên Nay. Khi ông Nay có đến nhà Ph tại địa chỉ: 526/25/6 đường H, Tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai chơi thì có đặt vấn đề gửi thuốc lá điếu tại nhà Ph. Nay thỏa thuận sẽ trả tiền cho Ph từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng tùy theo số lượng thuốc lá. Ph đồng ý và cho Nay số điện thoại di động 0932.532.575 của Ph để liên lạc gửi thuốc lá.
Ngày 16-6-2021, ông Nay gọi điện thoại cho Ph hẹn ngày 17-6-2021 sẽ có người chở thuốc lá điếu đến gửi. Đến khoảng 17 giờ ngày 17-6-2021, có người gọi vào điện thoại di động của Ph hỏi địa điểm gửi thuốc lá của ông Nay; Ph hướng dẫn người này địa điểm giao thuốc lá gần chùa Bửu Long, đường Hùng Vương, phường Phù Đổng, Thành phố Pleiku. Khoảng 15 phút sau, có một nam giới khoảng 40 tuổi điều khiển xe ô tô màu trắng, loại 16 chỗ ngồi, chưa xác định được biển số, chở thuốc lá đến điểm hẹn. Đối tượng này giao cho Ph 100 (một trăm) cây thuốc lá nhãn hiệu JET (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 1.000 bao) và 100 (một trăm) cây thuốc lá nhãn hiệu SCOTT (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 1.000 bao); Ph đem toàn bộ số thuốc lá này cất giấu vào nhà số 526/25/6 đường Hùng Vương, Tổ 2, phường Phù Đổng, Thành phố Pleiku của Ph.
Khoảng 16 giờ ngày 18-6-2021, Ph tiếp tục nhận được điện thoại hỏi địa điểm giao thuốc lá cho đối tượng Nay. Khoảng 15 phút sau, có một đối tượng nam giới khoảng 35 tuổi điều khiển xe ô tô màu xanh-đen, loại 16 chỗ ngồi, chưa xác định được biển số, chở thuốc lá đến điểm hẹn. Đối tượng này giao cho Ph 19 (mười chín) cây thuốc lá nhãn hiệu JET (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 190 bao), 71 (bảy mươi mốt) cây thuốc lá nhãn hiệu HERO (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 710 bao) và 100 (một trăm) cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 1.000 bao). Ph đem số thuốc lá nhãn hiệu JET và HERO cất giấu vào nhà số 526/25/6 đường Hùng Vương, đem số thuốc lá nhãn hiệu ESSE cất giấu vào nhà số 526/25/4 đường Hùng Vương, Tổ 2, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku (cũng là nhà của Ph).
Đến 21 giờ 30 phút ngày 18-6-2021, khi Ph đang cất giấu thuốc lá tại nhà số 526/25/6 đường Hùng Vương, thì bị Công an phường Phù Đổng và Công an thành phố Pleiku kiểm tra, phát hiện. Công an Thành phố Pleiku đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ph, thu giữ tổng cộng 2.900 bao thuốc lá điếu gồm các loại nhãn hiệu JET, SCOTT, HERO; thu giữ tại nhà số 526/25/4 đường Hùng Vương 1000 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE. Ngoài ra, Công an thành phố Pleiku kiểm tra, phát hiện thu giữ 12.030 bao thuốc lá điếu gồm các loại tại nhà số 526/25/8 đường Hùng Vương.
Tại Kết luận giám định số: 792/C09C-Đ2 ngày 25/6/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:
“- 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu JET; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
- 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu HERO; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu HERO; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
- 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE Classic; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE Classic; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
- 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE Lights; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE Lights; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
- 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu SCOTT; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu SCOTT; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không đủ cơ sở kết luận mẫu thuốc lá mang nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào”
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph khai nhận đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Ph khai nhận:
Bị cáo Ph không biết được họ tên, địa chỉ của ông Nay và hai đối tượng nam giới khoảng 40 tuổi và 35 tuổi đã giao thuốc lá cho Ph. Khi bị cáo Ph nhận cất giấu thuốc lá điếu nhập lậu cho đối tượng Nay, thì anh Trần Kh, là chồng của bị cáo Ph đi làm ăn xa, không có mặt ở nhà nên không biết việc Ph cất giấu thuốc lá tại nhà. Người phụ nữ tên Nguyễn Thị Thúy là người có mặt tại nhà bị cáo Ph tại thời điểm bắt quả tang là người làm dịch vụ nhà sạch được Ph thuê tới dọn dẹp nhà cửa và không có liên quan tới việc bị cáo Ph tàng trữ thuốc lá.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
- Đề nghị áp dụng điểm e Khoản 2 Điều 191; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph với mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 10 (mười) thùng cát tông được niêm phong có dấu niêm phong của Phòng Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku và các chữ ký của Nguyễn Thanh Chương, Mai Thị Thu Thảo và Nguyễn Thị Kim Ph; 01 sim số, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, nhãn hiệu I Phone 11 Pro Max, số IMEI 353949102888899, màu vàng đồng, có lô gô hình quả táo khuyết, (điện thoại cũ đã qua sử dụng, Chi cục THADS Thành phố Pleiku không kiểm tra tình trạng bên trong).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Ph không có ý kiến tranh luận gì đối với Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Bị cáo Ph nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy rất hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án quá trình điều tra không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đến vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của bị cáo có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18-6-2021, tại nhà số 526/25/4 và nhà số 526/25/6 đường H, Tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Thị Kim Ph đang cất giấu thuốc lá điếu thì bị Công an phường Phù Đổng và Công an thành phố Pleiku kiểm tra, phát hiện thu giữ toàn bộ thuốc lá điếu bao gồm:
- 119 (một trăm mười chín) cây thuốc lá nhãn hiệu JET (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 1.190 bao) và 100 (một trăm) cây thuốc lá nhãn hiệu SCOTT (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 1.000 bao), 71 (bảy mươi mốt) cây thuốc lá nhãn hiệu HERO (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 710 bao) tại nhà số 526/25/6 đường Hùng Vương,
- 100 (một trăm) cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE (mỗi cây gồm 10 bao, tổng cộng 1.000 bao) tại nhà số 526/25/4 đường Hùng Vương,
Bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo Ph chỉ vì hám lợi mà đồng ý tàng trữ hàng cấm cho đối tượng tên Nay nhằm được hưởng lợi.
Hành vi của bị cáo Ph là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Số lượng thuốc lá điếu bị cáo tàng trữ là 3.900 bao thuốc lá điếu các loại được sản xuất tại nước ngoài, không xuất trình được các hóa đơn, chứng từ chứng minh tính hợp pháp nên đây là hàng hóa nhập lậu theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 08/5/2015 của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng quy định chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph đã phạm vào tội: “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Gia đình của bị cáo có mẹ chồng là bà Hoàng Thị Hoa, sinh năm 1944 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và cha chồng của bị cáo là ông Trần Phẩm, sinh năm 1937 (chết năm 1998) được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Hiện bà Hoàng Thị Hoa đã già yếu và chung sống với vợ chồng bị cáo. Bản thân bị cáo là lao động chính của gia đình, chồng của bị cáo bị bệnh và không có việc làm và thu nhập ổn định. Vợ chồng bị cáo hiện đang trực tiếp phụng dưỡng bà Hoàng Thị Hoa và nuôi hai con nhỏ nên hoàn cảnh kinh tế của gia đình bị cáo lâm vào khó khăn. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi tàng trữ 100 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE bị thu giữ tại nhà số 526/25/4 đường Hùng Vương nên thể hiện sự hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các tình tiết này.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội vì động cơ hám lợi, chỉ vì muốn có thêm thu nhập cho gia đình mà đồng ý tàng trữ hàng cấm cho đối tượng tên Nay. Khi bị phát hiện, bị cáo đã thành khẩn khai báo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Hiện tại, bị cáo và chồng là anh Trần Kh đang vay Ngân hàng N – Chi nhánh Đông Gia Lai số tiền 300.000.000đồng và thế chấp tài sản là nhà số 526/25/4 và nhà số 526/25/6 đường Hùng Vương nêu trên nên hoàn cảnh gia đình đang lâm vào khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự; giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
Bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định và hoàn cảnh kinh tế của gia đình bị cáo lâm vào khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số thuốc lá điếu các loại bị thu giữ là vật cấm tàng trữ lưu hành nên bị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, nhãn hiệu I Phone 11 Pro Max, số IMEI 353949102888899, màu vàng đồng, được bị cáo sử dụng liên lạc trong việc giao, nhận thuốc lá là công cụ phương tiện phạm tội nên bị tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng nam giới tên Nay, 02 đối tượng nam giới khoảng 40 tuổi và 35 tuổi là những người đã giao thuốc lá cho bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku không xác định được nhân thân của các đối tượng này nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được các đối tượng trên, sẽ làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Đối với anh Trần Kh, là chồng của bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph và người phụ nữ tên Nguyễn Thị Thúy là người làm dịch vụ nhà sạch đến giúp bị cáo dọn dẹp nhà; anh Khánh và chị Ph không biết về hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với anh Khánh và chị Thúy là có căn cứ.
Đối với 12.030 gói thuốc lá điếu các loại thu giữ trong nhà số 526/25/8 đường H, Tổ 2, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, quá trình điều tra, không xác định được số thuốc lá điếu này là của ai và người cất giấu số thuốc lá này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã khởi tố vụ án khác về tội: “Tàng trữ hàng cấm” và đang tiến hành điều tra là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 191; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 06-4-2022.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph cho Ủy ban nhân dân phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy thuốc lá điếu các loại trong 10 (mười) thùng cát tông được niêm phong có dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku và các chữ ký của Nguyễn Thanh Chương, Mai Thị Thu Thảo và Nguyễn Thị Kim Ph.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, loại cảm ứng, nhãn hiệu I Phone 11 Pro Max, số IMEI 353949102888899, màu vàng đồng, có lô gô hình quả táo khuyết (điện thoại cũ đã qua sử dụng).
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-10-2021 giữa Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku,tỉnh Gia Lai).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Gia Lai;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Tp. Pleiku;
(đã ký)
- Công an Tp. Pleiku;
- Chi cục THADS Tp. Pleiku;
- Bị cáo, Người bào chữa (nếu có);
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Vũ Đình Nguyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Đình Nguyên
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ PLEIKU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH GIA LAI
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 00 ngày 06 tháng 4 năm 2022;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Đình Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Minh Đức
2. Bà Phạm Thị Kim Loan
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
- Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1981 tại: Gia Lai; nơi cư trú: 526/25/6 Hùng Vương, Tổ 2, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán.
Bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 3/3
2. Về tội danh và Điều luật áp dụng:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
Kết quả biểu quyết: 3/3
2.2. Về Điều luật áp dụng:
- Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 191; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph 02 năm 06 tháng tù tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 06-4-2022.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph cho Ủy ban Nhân dân phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Không
Kết quả biểu quyết: 3/3
4. Các vấn đề khác:
4.1. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 10 (mười) thùng cát tông được niêm phong có dấu niêm phong của Phòng Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku và các chữ ký của Nguyễn Thanh Chương, Mai Thị Thu Thảo và Nguyễn Thị Kim Ph; 01 sim số, đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, loại cảm ứng, nhãn hiệu I Phone 11 Pro Max, số IMEI 353949102888899, màu vàng đồng, có lô gô hình quả táo khuyết, (điện thoại cũ đã qua sử dụng).
(Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-10-2021 giữa Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku,tỉnh Gia Lai).
Kết quả biểu quyết: 3/3
4.3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim Ph phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3
4.4. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3
Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút..…, ngày 06 tháng 4 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Đình Nguyên
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND Tp. Pleiku; - Công an Tp. Pleiku; - Chi cục THADS Tp. Pleiku; - Bị cáo, Người bào chữa (nếu có); - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Đình Nguyên THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đình Nguyên |