vanban.org

Bản án 33/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 19/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Kim E và Sơn Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Kim E: 05 (năm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án; Xử phạt bị cáo Sơn Văn L: 04 (bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Kim E và Sơn Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HS-ST
Ngày: 19-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hương.

Ông Triệu Khánh Long.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đy Na – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS, ngày 24/6/2022 đối với các bị cáo:

1/ Kim E, sinh năm 1988 (không xác định được ngày tháng sinh); tại C, Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế xe cuốc; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kim H (c) và bà Thạch Thị S (s); Anh, chị, em ruột có: 06 người, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất là bị cáo; có vợ là Nguyễn Thị Tr, có 01 đứa con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2022 đến nay; (Bị cáo có mặt).

2/ Sơn Văn L, sinh ngày 01/01/1995; tại C, D; Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sơn H1 (c) và bà Trần Thị Mỹ L1 (s); Anh, chị, em ruột có: 05 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất là bị cáo; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2022 đến nay; (Bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Kim E và Sơn Văn L: Ông Triệu Du N, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).

Bị hại: Công ty TNHH A.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Lộc Th, sinh năm 1985 (có mặt);

Nơi cư trú tại: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

1. Thạch Nh, sinh năm 1995 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Trần Ngọc L (L), sinh năm 1972 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

3. Trần Thị Hoàng A, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Đường 1, khóm 2, phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Người làm chứng:

1. Lê Văn T, sinh năm 1974 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp M, xã N, thị xã Q, tỉnh Sóc Trăng.

2. Danh Th1, sinh năm 1995 (có mặt);

3. Thạch Thị S, sinh năm 1951 (có mặt);

Cùng nơi cư trú : Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

4. Nguyễn Văn Q, sinh năm 2003 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp M, xã N, thị xã Q, tỉnh Sóc Trăng.

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lâm Diệp Panh, nguyên cán bộ phường 1, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 08/01/2022 Kim E rủ Sơn Văn L đi lấy trộm dầu trong xe cuốc do E làm tài xế đang đậu gần trạm biến áp Lạc Hòa thuộc ấp 5, xã 6, thị xã 7 thì được L đồng ý. khi đi Kim E điều khiển xe mô tô biển số 94H1-2914 chở L đến chỗ xe cuốc thì phát hiện xe cuốc không còn dầu nên quay về. Khi về ngang qua cổng trạm biến áp Lạc Hòa nơi Công ty TNHH A đang thi công đường dây điện, Kim E rủ L vào lấy trộm cáp điện. Sau đó, cả hai vào bên trong trạm biến áp Lạc Hòa cùng nhau lăn 01 cuộn dây điện (cáp lõi đồng) dài 35 m ra ngoài trạm biến áp và thuê xe ba bánh chở đi giấu tại chòi giữ tôm của Kim E tại ấp A, xã B. Đến khoảng 06 giờ 30 phút sáng ngày 09/01/2022, anh Lê Văn T là tổ trưởng bảo vệ tại Trạm biến áp Lạc Hòa phát hiện mất cuộn dây cáp lõi đồng nói trên nên trình báo Công an xã C.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 USB chứa đoạn video dài 02 phút 22 giây ghi lại diễn biến các bị cáo thực hiện hành vi lấy trộm cuộn dây cáp đồng tại trạm biến áp Lạc Hòa đã được niêm phong; 01 cuộn dây cáp lõi đồng 0.6/1Kv CVX-DSTA-(3Cx95+1Cx50)mm2, có chiều dài 35m đã giao trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số 03 ngày 01/3/2022; 01 chiếc xe mô tô biển số: 94H1-2914 đã giao trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 26/4/2022; 01 chiếc xe mô tô 03 bánh biển số 61L6-8217 thu giữ của Thạch Nh, quá trình đã xác minh ông Trần Thanh T2, có địa chỉ H, huyện J, tỉnh Bình Dương đứng tên trong giấy đăng ký xe nên Cơ quan điều tra tiến hành ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT công an huyện A để điều tra làm rõ nhưng chưa có kết quả, do thời hạn điều tra đã hết và chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Kim E và bị cáo Sơn Văn L. Do đó, Cơ quan điều tra vẫn tạm giữ chiếc xe mô tô 03 bánh này để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS, ngày 28/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận: 01 (một) cuộn dây cáp lõi đồng 0.6/1Kv CVX-DSTA - (3Cx95+1Cx50)mm2, có chiều dài 35m, có tổng giá trị là 33.180.263 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Kim E và Sơn Văn L; trong quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do các bị cáo đã gây ra.

- Tại phiên tòa, các bị cáo Kim E và Sơn Văn L đã khai nhận vào khoảng hơn 21 giờ ngày 08/01/2022 cả hai bị cáo cùng vào trộm được một cuộn dây điện cáp lõi đồng dài 35m tại Trạm biến áp Lạc Hòa của Công ty A đem về cất giấu thì bị phát hiện nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Với nội dung vụ việc như trên, tại Cáo trạng số 31/CT-VKS-VC ngày 03/6/2022 Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu để xét xử các bị cáo: Kim E và Sơn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015).

- Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận đã viện dẫn khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 do các bị cáo thực hiện hành vi lén lút lấy trộm một cuộn dây điện cáp lõi đồng dài 35m có giá trị là: 33.180.263 đồng nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Kim E và Sơn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17; Khoản 1 Điều 38 BLHS 2015 xử phạt bị cáo: Kim E và Sơn Văn L mỗi bị cáo từ 03 tháng đến 04 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại là Công ty A đã nhận lại tài sản bị mất là một cuộn dây cáp lõi đồng dài 35m theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số 03 ngày 01/03/2022 và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

01 (một) chiếc xe mô tô biển số 94H1-2914 đã giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 26/4/2022.

Riêng 01 (một) chiếc xe mô tô ba bánh biển số 61L6-8217 không có giấy tờ hợp lệ nên tạm giữ để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà, người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS cho các bị cáo; do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo mức khởi điểm là 03 tháng tù là đúng với quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.

- Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của bị hại (Công ty A) Huỳnh Lộc Th trình bày: Thừa nhận có mất trộm 01(một) cuộn dây cáp lõi đồng 0.6/1kv CVX-DSTA- (3Cx95+1Cx50)mm2, có chiều dài 35m đúng như nội dung cáo trạng truy tố và lời nhận tội của các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đã được trả lại tài sản bị mất theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số 03/QĐ-ĐTTH, ngày 01/3/2022 của Công an thị xã C nên ông không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường thiệt hại. Về trách nhiệm hình sự: Yêu cầu giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch Nh trình bày: Khai nhận vào đêm 08/01/2022 ông có dùng xe ba bánh biển số 61L6-8217 mua lại xe cũ của người khác không có giấy tờ hợp lệ, để chở thuê cho Kim E một cuộn dây điện cáp lõi đồng đi cất giấu với tiền công là 200.000 đồng, mặc dù biết rõ đây là tài sản trộm cắp mà có.

- Tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc L trình bày: Ông là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển số 94H1-2914 nhưng chưa sang tên chính chủ (mua lại của người khác); vào ngày 08/01/2022 Kim E có mượn chiếc xe của ông để đi về nhà. Việc Kim E lấy xe đi trộm cắp ông hoàn toàn không hay biết. Hiện nay cơ quan công an đã giải quyết giao trả xe cho ông nên ông không có ý kiến gì khác.

- Tại cơ quan điều tra, nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hoàng A trình bày: Trước đây bà có đứng tên đăng ký xe mô tô biển số 94H1-2914 cho người bạn tên C nhưng cách nay đã lâu Cường đã bán xe cho người khác. Nay tôi không còn liên quan gì đến chiếc xe này nữa nên không có yêu cầu gì khác.

- Tại phiên tòa, người làm chứng Lê Văn T, Danh Th trình bày: Ông T, ông Th là nhân viên của Công ty A khai nhận là vào sáng ngày 09/01/2022 phát hiện mất cuộn dây cáp lõi đồng nên trình báo Công an.

- Tại phiên tòa, các bị cáo Kim E và Sơn Văn L thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm bào chữa của vị Luật sư, các bị cáo không có tranh luận gì thêm và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về giúp đỡ gia đình.

NH N ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và những người có liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 91, 92, 98, 101, 102, 104, 105, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Tại phiên tòa, hai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một người làm chứng vắng mặt; Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, Luật sư, các bị cáo, bị hại cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy, sự vắng mặt của những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; căn cứ vào Điều 292; 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[4]. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo Kim E và Sơn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu hồi vật chứng, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, lời khai của người đại diện bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở kết luận vào khoảng hơn 21 giờ ngày 08/01/2022 các bị cáo Kim E và Sơn Văn L đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, đã lén lút trộm cắp một cuộn dây cáp lõi đồng, dài 35m có giá trị là 33.180.263 đồng. Do đó, các bị cáo Kim E và Sơn Văn L đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.

[5]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì tham lam, lười biếng lao động nên các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người quản lý tài sản để thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương, tạo ra sự hoang mang, lo sợ làm cho nhân dân không an tâm lao động sản xuất. Nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian hợp lý để giáo dục các bị cáo và làm gương cho người khác.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công rõ ràng nên chỉ là đồng phạm giản đơn và cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Kim E là người khởi xướng rủ rê và cũng là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nên cần có mức án cao hơn để làm gương cho người khác; bị cáo Sơn Văn L là đồng phạm tích cực và trực tiếp thực hiện tội phạm, nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội là đúng quy định của pháp luật.

[6].Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn (Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người dân tộc Khmer có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế và người đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 của BLHS 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại là Công ty A đã nhận lại tài sản bị mất là một cuộn dây cáp lõi đồng dài 35m theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số 03 ngày 01/03/2022 và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không đặt ra xem xét.

01 (một) chiếc xe mô tô biển số 94H1-2914 đã giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 26/4/2022 nên không đặt ra xét lại.

Riêng 01 (một) chiếc xe mô tô ba bánh biển số 61L6-8217 không có giấy tờ hợp lệ nên Cơ quan điều tra tạm giữ để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[9]. Đối với Thạch Nh có hành vi dùng xe mô tô ba bánh biển số 61L6-8217 chở thuê cuộn dây cáp mà biết rõ là do trộm cắp mà có. Tuy nhiên, do các bị cáo chỉ bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; nên Thạch Nh chưa hội đủ các yếu tố cấu thành tội che giấu tội phạm và cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát không khởi tố, truy tố mà chỉ tạm giữ phương tiện để tiếp tục làm rõ là đúng quy dịnh pháp luật.

[10]. Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, do Kim E là người khởi xướng, rủ rê Sơn Văn L thực hiện hành vi phạm tội nên cần có mức án đối với Kim E cao hơn mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[11]. Tại phiên tòa, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thống nhất về tội danh, khung hình phạt của Viện kiểm sát và đề nghị miễn án phí cho các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng việc yêu cầu xử phạt 03 tháng tù đối với các bị cáo là chưa nghiêm, chưa có tác dụng răn đe và giáo dục phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[12]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, các bị cáo Kim E và Sơn Văn L thuộc đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa các bị cáo có đơn xin miễn án phí. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì các bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Kim E và Sơn Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 3 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 BLHS 2015 đối với các bị cáo Kim E và Sơn Văn L.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Kim E: 05 (năm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án;

2. Xử phạt bị cáo Sơn Văn L: 04 (bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án;

3. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí: Các bị cáo Kim E và Sơn Văn L được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Riêng đối với những người vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ