- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ trộm cắp tài sản, bị cáo Phan Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phan Thanh T phạm tội: ”Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày: 16/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Thành
2. Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang - là thư ký Toà án nhân dân quận C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2022/QĐXXST-HS ngày 27/5/2022 đối với bị cáo:
Phan Thanh T; sinh năm: 1970; tại: Cần Thơ; Nơi cư trú: Số 09, Tổ S, Khu vực C, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: L28 Đường Số N, Khu vực C, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Thanh C (chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc T (sống); vợ: Huỳnh Thị Mỹ H; có 02 con, lớn sinh năm: 1995, nhỏ sinh năm: 1997; tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ. Trụ sở: 290/2D L, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Văn Th – Giám đốc Công ty. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Arockiasamy L; sinh năm: 1986. Địa chỉ: Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1, ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2/ Bà Huỳnh Thị Mỹ H; sinh năm: 1971. Địa chỉ: L28 Đường số 5, Khu vực C, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
3/ Bà Nguyễn Thị L; sinh năm: 1975. Địa chỉ: 184 ấp Th, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
4/ Ông Thái Văn T; sinh năm: 1979. Địa chỉ: Dịch vụ cầm đồ và mua bán xe cũ Thái T- ấp An Ninh II, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh T là nhân viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ. Vào khoảng 10 giờ ngày 08/8/2021, trong khi đang trực chốt bảo vệ tại Khu chung cư H, Lô A thuộc Khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, Phan Thanh T thấy gia đình ông Arockiasamy L (quốc tịch Ấn Độ, hiện làm việc tại Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang) dọn đồ, trả phòng thì T đến phụ giúp. Trong lúc phụ giúp, T phát hiện có túi nilon màu đen rớt ra ngoài nhưng không thông báo mà tiếp tục đưa những tài sản khác lên xe tải.
Sau khi mọi người đi khỏi, T kiểm tra túi nilon, phát hiện bên trong có 01 giấy đăng ký xe môtô biển số 83C1-243.58; 01 chìa khóa xe; 01 Hợp đồng mua bán xe. T đem về nhà trọ tại số L28, Khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ cất giấu và nói với vợ Huỳnh Thị Mỹ H là của người bạn gửi. Sau đó, T kiểm tra bên trong nhà xe của Khu Chung cư H, Lô A, phát hiện xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS màu nâu đỏ đen, biển số 83C1-243.58 đậu trong khu vực nhà xe của khu chung cư.
Đến ngày 24/9/2021, T được phân công trực chốt bảo vệ tại nhà xe Khu chung cư H, Lô A, phát hiện chiếc xe vẫn còn đậu trong bãi giữ xe nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô. T dẫn xe môtô từ trong nhà xe ra đến đậu tại khu vực gần lối ra vào nhà xe và điện thoại gọi cho vợ là Huỳnh Thị Mỹ H đem theo giấy tờ xe, chìa khóa xe đến để lấy, điều khiển chiếc xe về nhà trọ. Do nhà trọ không đủ chỗ đậu nên T nói H điều khiển xe đến gửi tại bãi giữ xe của Bệnh viện Quân Y 121 thuộc Cục Hậu Cần, Quân khu 9, thành phố Cần Thơ.
Sau khi nH được tin báo tội phạm, Công an đã tiến hành trích xuất dữ liệu camera tại chung cư, phát hiện sự việc. Sau khi tiến hành điều tra, Phan Thanh T đã tự nguyện giao nộp lại xe và các giấy tờ có liên quan.
Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 thẻ giữ xe số 1058; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS màu xám đỏ đen, biển số 83C1-243.58, số máy JC52E1351337, số khung 5269DY230122; 01 giấy đăng ký xe môtô biển số 83C1-243.58 mang tên Nguyễn Thị L; 01 Hợp đồng mua bán xe môtô biển số 83C1-243.58 (Bút lục 29; 138).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 80/TCKH-HĐĐG ngày 18/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: xe môtô nhãn hiệu Honda Waves màu xám đỏ đen, biển số 83C1-243.58, số máy JC52E1351337; số khung 5269DY230122 (đăng ký lần đầu ngày 15/3/2015) có giá trị là 14.500.000đ (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra, Phan Thanh T đã thừa nH hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với Huỳnh Thị Mỹ H có hành vi điều khiển chiếc xe về nhà trọ cất giấu nhưng không biết đây là tài sản do Phan Thanh T chiếm đoạt nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với chiếc xe biển số 83C1-243.58 do chị Nguyễn Thị L đăng ký chủ sở hữu. Chị L đã cầm xe và bán lại cho anh Thái Văn T- Chủ Cửa hàng Cầm đồ Thái T vào năm 2018. Anh T đã bán lại cho ông Arockiasamy L nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Arockiasamy L: xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS màu xám đỏ đen, biển số 83C1-243.58; giấy đăng ký xe môtô biển số 83C1-243.58 mang tên Nguyễn Thị L; Hợp đồng mua bán xe môtô biển số 83C1-243.58 và trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ một thẻ giữ xe số 1058.
Về trách nhiệm dân sự:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ không có yêu cầu gì thêm.
Ông Arockiasamy L đã nH lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKS-CR ngày 28/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ đã truy tố Phan Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nH toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kết luận vụ án:
- Vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã viện dẫn.
- Xét thấy, ngày 24/9/2021, Phan Thanh T có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là chiếc xe môtô có giá trị 14.500.000đ khi đang trực chốt bảo vệ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ tại Khu chung cư H, Lô A thuộc Khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Hành vi Phan Thanh T thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có phần thành khẩn khai báo, thuộc T hợp ít nghiêm trọng; về nhân thân, chưa có tiền án, tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là ông Arockiasamy L xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS màu xám đỏ đen, biển số 83C1-243.58; giấy đăng ký xe môtô biển số 83C1-243.58 mang tên Nguyễn Thị L; Hợp đồng mua bán xe môtô biển số 83C1-243.58 và trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ một thẻ giữ xe số 1058 là đúng quy định, đề nghị Hội đồng xét xử công nH việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nH lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nH hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nH tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, xét thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi bị cáo lén lút lấy trộm tài sản của là chiếc xe môtô biển số 83C1-243.58 có giá trị 14.500.000đ của ông Arockiasamy L đang gởi tại Khu chung cư H, Lô A thuộc Khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ quản lý vào ngày 24/9/2021, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là chính xác.
[3] Xét thấy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.
[4] Bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Bị cáo biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lòng tham, muốn hưởng thụ tài sản của người khác mà không cần vất vả lao động làm ra nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù để giáo dục, cải tạo cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có phần thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc T hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo chưa có thái độ ăn năn hối cải nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[6] Đối với Huỳnh Thị Mỹ H có hành vi điều khiển chiếc xe về nhà trọ cất giấu; xét thấy, Huỳnh Thị Mỹ H không biết đây là tài sản do Phan Thanh T chiếm đoạt nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ và ông Arockiasamy L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thêm nên không giải quyết.
[8] Về vật chứng: Chiếc xe biển số 83C1-243.58 do chị Nguyễn Thị L đăng ký chủ sở hữu. Chị L đã cầm xe và bán lại cho anh Thái Văn T- Chủ Cửa hàng Cầm đồ Thái T vào năm 2018. Anh T đã bán lại cho anh Arockiasamy L nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho chủ sở hữu là ông Arockiasamy L; giấy đăng ký xe môtô biển số 83C1-243.58 mang tên Nguyễn Thị L; Hợp đồng mua bán xe môtô biển số 83C1-243.58 và trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ Đ thẻ giữ xe số 1058 là đúng quy định nên công nhận việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra.
[9] Về quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Phan Thanh T phạm tội: ”Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Phan Thanh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.
3. Về vật chứng: căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Công nhận việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra, đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
4. Về án phí: căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và danh mục án phí;
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị hại và đương sự vắng mặt tại phiên tòa; bị cáo, bị hại và các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Cần Thơ - VKSND Q. C. - VKSND Tp. Cần Thơ. - Trại giam, Công an Q. C. - Cơ quan Thi hành án. - Bị cáo; đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang |