- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn V - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày 27/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tư Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
`
Ông Nguyễn Quốc Sửu;
Ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện
T, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc
Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn V, sinh năm 1983;
Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: nam; Nghề
nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Dương Văn Ngh, sinh năm 1939, Họ và tên mẹ: Đỗ Thị N, sinh năm 1943, đều cư trú thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 150A/QĐXPHC ngày 29/11/2020 của Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt Dương Văn V 4.700.000 đồng về hành vi “Có cử chỉ lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” (phạt tiền 200.000 đồng), hành vi “Đánh nhau” (phạt tiền 1.000.000 đồng), hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” (phạt tiền 3.500.000 đồng); Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 15/10/2021 đến ngày 23/10/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: số nhà 4, đường Th, phường Tr, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/10/2021, Dương Văn V, sinh năm 1983, trú
tại thôn T, xã S, huyện T, huyện T đến trụ sở UBND xã L, huyện T tìm gặp ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1988, trú tại thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang-Hiện đang giữ chức vụ Trưởng Công an xã L, huyện T. Khi đến gặp ông D, V đã liên tục có những lời lẽ thô tục, lăng mạ, xúc phạm ông D, vừa đi tìm phòng làm việc của ông D, V vừa có lời nói thô tục, lăng mạ. Khi đi vào phòng làm việc của ông D, V tiếp tục lăng mạ, xúc phạm, có hành động giật khẩu trang của ông D và có nhiều lời nói hành động chửi bới, thách thức đối với ông D. Sau đó, ông D yêu cầu V ra khỏi phòng làm việc thì V đi ra sảnh tầng 1 của Trụ sở làm việc của Ủy ban nhân dân xã L tiếp tục lăng mạ, chửi bới, xúc phạm, giật khẩu trang của ông D ném xuống đất gây sự chú ý của mọi người xung quanh, làm mất trật tự nơi công sở, cản trở hoạt động bình thường của Cơ quan Công an và Uỷ ban nhân dân xã L, huyện T. Thấy vậy, ông D đã mời V ra khỏi trụ sở Uỷ ban nhân dân xã L nhưng V không chấp hành. Lúc này, ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1987, trú tại số nhà 4, đường Th, phường Tr, thành phố B hiện là Phó trưởng công an xã L, huyện T đang làm nhiệm vụ tại trụ sở thấy V có hành động lời nói xúc phạm gây rối tại Ủy ban nhân dân xã nên sử dụng chiếc điện thoại Iphone 6 Plus, màu vàng quay video ghi lại diễn biến sự việc. Thấy vậy, V tiến đến đứng đối diện với ông Th dùng tay phải dơ lên gạt về phía tay phải của ông Th đang cầm điện thoại thì ông Th buông tay phải xuống phía ngang người (điện thoại chưa rơi khỏi tay) thì V tiếp tục dùng tay phải gạt thêm một lần nữa làm chiếc điện thoại của ông Th rơi xuống dưới nền gạch của Trụ sở UBND xã L làm vỡ màn hình chiếc điện thoại. Sau đó, Công an xã L, huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Văn V và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày 15/10/2021, ông Hoàng Văn Th tự nguyện giao nộp 01 điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng cũ đã qua sử dụng bị hư hỏng màn hình. Ông Nguyễn Văn D cung cấp 01 đĩa DVD nhãn hiệu Masxell, màu vàng bên trong có lưu trữ 03 đoạn video có liên quan đến vụ việc của Dương Văn V.
Ngày 20/10/2021, ông Đồng Văn Ph, Chủ tịch UBND xã L giao nộp cho Cơ
quan điều tra 01 ổ lưu dữ liệu camera nhãn hiệu HIKVISION màu đen, số seri 696519365.
Tại kết luận định giá tài sản số 72/KL-ĐGTS ngày 19/10/2021 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá: Giá trị, phần thiệt hại hư hỏng của 01 chiếc điện thoại di động Iphone6 plus, màu vàng cũ đã qua sử dụng, bị vỡ kính cường lực, màn hình cảm ứng điện thoại bị nứt vỡ, hư hỏng không sử dụng được, pin điện thoại bị hư hỏng không sử dụng được tại thời điểm ngày 15/10/2021 trị giá: 1.000.000 đồng.
Tại bản kết luận số 1669/KL-KTHS, ngày 22/10/2021 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Không phát hiện dấu hiệu bị cắt ghép nội dung hình ảnh trong các fìle
video cần giám định như sau:
- Tên file “Gây rối TTCC 1.mp4”, dung lượng: 9,74 MB; thời lượng: 01
phút 26 giây.
- Tên file “Gây rối TTCC 2.mp4”, dung lượng: 95,0 MB; thời lượng: 01
phút 26 giây.
- Tên file “Gây rối TTCC 3.mp4”, dung lượng: 56,4 MB; thời lượng: 02
phút 12 giây.
2. Trích xuất được 18 hình ảnh thể hiện hành vi, diễn biến sự việc có trong
file video gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1900/KL-KTHS ngày 25/11/2021 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“Phục hồi, tìm kiếm, trích xuất được 602.558 file dữ liệu định dạng “.mp4”
có trong đầu thu camera giám định (một số dữ liệu được khôi phục chỉ còn lại một hình ảnh và đã bị lỗi một phần có trong file định dạng “.mp4”) được lưu trữ vào trong 01thiết bị USB nhãn hiệu Kington - 64GB, màu đen.”
Ngày 14/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã gửi Công
văn số: 42/CQĐT-ĐTTH, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giải thích nguyên nhân dẫn đến việc dữ liệu bị phân mảnh (chỉ còn lại một hình ảnh) và bị lỗi như nội dung kết luận giám định số: 1900/KL-KTHS ngày 25/11/2021. Ngày 24/01/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang có Công văn phúc đáp số: 60/KTHS, nội dung: “Nguyên nhân là do các dữ liệu trong ổ cứng HDD nhãn hiệu TOSHIBA, số S/N: Z8LRV6RNSF3G, dung lượng 1TB gắn trong đầu thu camera gửi giám định đã bị xóa (do tác động của con người) và bị ghi đè một phần dữ liệu, nên khi tiến hành khôi phục dữ liệu, dẫn đến các file video, hình ảnh bị phân mảnh và lỗi một phần của dữ liệu được khôi phục lại.”
Quá trình điều tra, bị cáo Dương Văn V khai: quá trình xảy ra sự việc V bị
ông Nguyễn Văn D, ông Hoàng Văn Th và ông Dương Văn H, sinh năm 1992, trú tại thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang - Công an viên thường trực xã L đánh gây thương tích khi khống chế, bắt giữ V.
Cơ quan điều tra đã tổ chức các hoạt động điều tra để xác định tình trạng
thương tích, quyết định trưng cầu giám định làm rõ nội dung V yêu cầu.
Tại Bản kết luận giám định số 485/22/TgT ngày 18/02/2022 của Trung tâm
pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận về thương tích của Dương Văn V như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích chạm thương môi không còn dấu vết: 0%.
- Kiểm tra cổ tay hai bên không thấy dấu vết thương tích: 0%.
2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông
tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 0% (Không phần trăm).
Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Văn V về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh
luận: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi “Gây rối trật tự công cộng” của mình, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Văn V về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 điều 318 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 38; điểm i, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Dương Văn V.
Xử phạt bị cáo Dương Văn V từ 04 đến 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 15/10/2021 đến ngày 23/10/2021) vào thời gian chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và luận
tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang, truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công công”. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất để cải tạo và sớm trở về gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa
phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định, các tài liệu chứng cứ khác như dữ liệu điện tử đã được chuyển hóa thành chứng cứ có thể đọc và xem được. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ ngày 15/10/2021, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Dương Văn V, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang thực hiện hành vi đến phòng làm việc của Trưởng Công an xã thuộc trụ sở Ủy ban nhân dân xã L liên tục chửi bới, thách thức, đe dọa, xúc phạm đối với ông Nguyễn Văn D - chức vụ: Trưởng Công an xã L, huyện T làm cản trở sự hoạt động bình thường, đúng đắn của lực lượng Công an xã và Uỷ ban ban nhân dân xã L, huyện T khoảng 30 phút, tạo dư luận xấu và ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Như vậy, bị cáo có hành vi gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo V về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 là đúng người, đúng tội cần được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp
luật và các quy tắc của cuộc sống, coi thường trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa. Hành vi đó không những làm thiệt hại về tài sản cho người khác mà còn gây mất an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, bị quần chúng nhân dân lên án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố
và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có mẹ được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
150A/QĐXPHC ngày 29/11/2020 của Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt Dương Văn V 4.700.000 đồng về hành vi “Có cử chỉ lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” (phạt tiền 200.000 đồng), hành vi “Đánh nhau” (phạt tiền 1.000.000 đồng), hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” (phạt tiền 3.500.000 đồng). Ngày 28/12/2020, V có đơn khiếu nai Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên, ngày 11/02/2021, Trưởng Công an huyện T có Quyết định về việc giải quyết khiếu nại, nhưng ngày 24/10/2021 V mới nhận được Quyết định về việc giải quyết khiếu nại. Như vậy, sau khi khởi tố vụ án bị cáo V mới nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại. Do đó, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 150A/QĐXPHC ngày 29/11/2020 của Công an huyện T đối với bị cáo chỉ được coi là nhân thân.
Từ những tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Công an huyện T xử phạt hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Để phòng ngừa chung và có tác dụng răn đe cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt thật nghiêm khắc, cần bắt bị cáo cách ly với đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân lương thiện. Nhưng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, cũng như hoàn cảnh của bị cáo đang nuôi con nhỏ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với hành vi làm hư hỏng màn hình chiếc điện thoại di động giá trị
1.000.000 đồng của V trong vụ án này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, hành vi làm hư hỏng màn hình chiếc điện thoại của ngày 15/10/2021 của V không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển tài liệu đến Trưởng Công an huyện T để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Văn V về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus,
màu vàng cũ đã qua sử dụng và 01 ổ lưu dữ liệu camera nhãn hiệu HIKVISION màu đen, số seri 696519365. Quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Hoàng Văn Th và UBND xã L do ông Đồng Văn Ph - Chủ tịch đại diện. Ngày 26/01/2022 Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu, là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Văn Th không yêu cầu bị cáo phải
bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Xử phạt bị cáo Dương Văn V 04 (bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”, được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 15/10/2021 đến ngày 23/10/2021) vào thời gian chấp hành án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND, THADS, Công an huyện; - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tư Duy |