- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn A, phạm tội: “Hiếp dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày 18.4.2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần HỘI ĐỒNG xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nàng Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thông Minh Tấn;
Ông A Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Duy Khánh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022, Thông báo về việc hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm số 03/TB-TA ngày 26/01/2021, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 06/2022/TB-TA ngày 24/02/2022, Thông báo về việc hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm số 08/TB-TA ngày 08/3/2022 , Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 06/2022/TB-TA ngày 04/4/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn A - Sinh năm: 1985, tại Trà Vinh.
Tên gọi khác: Không có
Giới tính: Nam
Hộ khẩu thường trú: ấp B, xã C, huyện Tiểu Cầu, tỉnh Trà Vinh.
Chỗ ở hiện nay: thôn D, xã E, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: lao động tự do;
Trình độ học vấn: 08/12;
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông: Nguyễn Văn F, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1962;
Gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1987, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1988, nghề nghiệp: Làm nông;
Con: 01 người con, sinh năm 2014.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/10/2021 đến ngày 27/10/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người bị hại: Đặng Thị I, Sinh năm: 1986; có mặt
Nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Người làm chứng:
1. Ông Lê Hữu J; Sinh năm: 1983; có mặt
Nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
2. Bà Nguyễn Thị Thu H; Sinh năm: 1988; có mặt
Nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/10/2021, Nguyễn Văn A đi bộ tới chòi của anh Lê Hữu J (anh J thuê rẫy của ông K ở thôn D, xã E, huyện Hàm Thuận Nam) để nhậu. Lúc này, tại chòi có anh J, vợ chồng anh Tư Danh, vợ của A là Nguyễn Thi Thu H. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, vợ anh J là chị Đặng Thị I đến ngồi chơi. Nhậu đến khoảng 21giờ 30 phút cùng ngày, anh Tư Danh về trước, sau đó tới vợ anh Tư Danh và vợ A cùng ra về. Lúc này, còn 02 lon bia nên anh J rủ A ở lại uống hết rồi về sau. Trong lúc ngồi nhậu với anh J, A hỏi anh J “vợ chồng anh ngủ ở đây hả”, anh J trả lời “không, vợ chỉ mang đồ tới, ngồi chơi lúc rồi về vì có hai đứa con ở nhà”. A và J nhậu đến gần 22 giờ cùng ngày thì A đi bộ về chòi của mình để ngủ. Khi A về gần tới chòi của mình thì nảy sinh ý định chặn đường chị I để hiếp dâm vì biết được chị I đi về một mình. Thực hiện ý định này, A đi bộ vào trong kho của rẫy nhà ông K lấy ra 02 cái cuốc và vào phòng bếp sát kho này lấy 01 cái áo lao động hiệu KOMIC màu xanh. A mang 02 cây cuốc ra chặn ngang đường bờ lô thanh long cách chòi của anh J khoảng 100m với mục đích chặn xe của chị I lại rồi cầm cái áo lao động hiệu KOMIC núp trong vườn thanh long. Khoảng 15 phút sau, chị I một mình điều khiển xe máy đi từ trong rẫy về. Khi đi đến chỗ 02 cây cuốc thì chị I dừng xe lại. Lúc này, A từ trong vườn thanh long đi ra phía sau lưng chị I, A dùng áo lao động hiệu KOMIC màu xanh trùm kín đầu chị I. Chị I hoảng hốt, túm được tay phải của A. Cả hai giằng co nhau làm xe mô tô và cả hai người ngã xuống đất, vật lộn tới gần trụ thanh long. Lúc này, chiếc áo lao động tuột xuống cổ của chị I, nhưng A vẫn giữ chặt áo. Trong lúc giằng co, chị I cắn vào má bên trái, cắn vào tay phải và vào cổ của A. Tiếp đó, chị I dùng tay nắm chặt tinh hoàn của A. A bị đau, vùng vẫy và cắn nhiều cái vào má, vào môi của chị I gây tI tích. Chị I bị đau nên thả tay ra, A vùng vẫy và chạy thoát, để lại một áo lao động hiệu KOMIC màu xanh, 02 cây cuốc và đôi dép màu đen tại hiện trường. Khi A về chòi của mình và mở cửa chòi, thì vợ A là chị H thấy mặt của A có vết tI trên mặt nên hỏi A “sao vậy”, A trả lời “bị té” rồi đi ngủ đến sáng hôm sau A quay lại hiện trường lấy đôi dép. Sau khi xảy ra sự việc, chị I báo cho Công an xã E, huyện Hàm Thuận Nam, J thời làm đơn yêu cầu khởi tố A về tội “Hiếp dâm”.
Vật chứng vụ án: 01 cây cuốc có đặc điểm cán bằng gỗ hình tròn, dài 142cm, đường kính 2 cm; 01 cây cuốc hình lưỡi chim cán bằng gỗ, dài 102cm, đường kính 3cm; 01 cái áo lao động dài tay có đặc điểm màu xanh, trên mặt sau lưng áo có chữ Komix; 01 đôi dép bằng nhựa màu đen (do chị Nguyễn Thị Thu H là vợ của bị cáo A giao nộp). Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/01/2022 tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đặng Thị I yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn A bồi thường tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Thu H là vợ của bị cáo A đã tự nguyện giao nộp số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường cho chị Đặng Thị I theo biên lai thu tiền số 0003686 ngày 08/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam và giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 24/01/2022 tại Kho bạc nhà nước huyện Hàm Thuận Nam.
Tại Cáo trạng số 119/CT-VKSHTN-HS ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội: “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam giữ quyền công tố luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn A. Đề nghị HỘI ĐỒNG xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A, phạm tội:“Hiếp dâm”.
Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây cuốc có đặc điểm cán bằng gỗ hình tròn, dài 142cm, đường kính 2 cm; 01 cây cuốc hình lưỡi chim cán bằng gỗ, dài 102cm, đường kính 3cm; 01 cái áo lao động dài tay có đặc điểm màu xanh, trên mặt sau lưng áo có chữ Komix; 01 đôi dép bằng nhựa màu đen theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/01/2022 tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Nguyễn Văn A và bị hại Đặng Thị I và. Buộc bị cáo Nguyễn Văn A bồi thường cho bị hại Đặng Thị I số tiền 30.000.000 đồng. Đề nghị tiếp tục tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Văn A: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HỘI ĐỒNG xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại Đặng Thị I trình bày: Yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường tổng số tiền 30.000.000 đồng gồm tất cả các chi phí khám chữa trị tI tích và tiền tổn thất tinh thần. Về hình phạt, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HỘI ĐỒNG xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Kiểm sát viên đều được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn A trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp, thống nhất với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Văn A là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn A hoàn toàn nhận thức được việc xâm hại tình dục trái ý muốn đối với người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Thế nhưng vào khoảng 22 giờ ngày 21/10/2021, tại khu vực rẫy thanh long thôn D, xã E, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, do biết chị Đặng Thị I sẽ đi về một mình nên bị cáo Nguyễn Văn A đã dùng 02 cây cuốc chặn ngang đường đi về của chị I và dùng áo trùm lên đầu chị I với mục đích khống chế chị I để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn, tuy nhiên do chị I chống trả quyết liệt nên bị cáo đã không thể thực hiện hành vi đến cùng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội, không oan.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự tại địa pI, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, do vậy phải xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. HỘI ĐỒNG xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt, HỘI ĐỒNG xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục bồi thường cho người bị hại; có bác ruột đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bà nội ruột được UBND tỉnh Trà Vinh tặng Bằng khen người có công đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ; ông ngoại ruột được Chủ tịch nước tặng huy cI kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn A được quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vấn đề khác: Đối với các tI tích trên người của chị Đặng Thị I do bị cáo Nguyễn Văn A gây ra. Do bị hại Đặng Thị I từ chối giám định tI tích nên không có căn cứ để xử lý nên HỘI ĐỒNG xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại bà Đặng Thị I yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường tất cả các khoản chi phí khám chữa trị tI tích và khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn A J ý bồi thường số tiền trên cho bị hại Đặng Thị I. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các bên, không bị ai ép buộc và không trái với quy định của pháp luật nên HỘI ĐỒNG xét xử ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường này. Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường cho bị hại Đặng Thị I số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn A đã nộp đủ số tiền 30.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003686 ngày 08/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/01/2022 tại Kho bạc nhà nước huyện Hàm Thuận Nam.
Về xử lý vật chứng: 01 cây cuốc có đặc điểm cán bằng gỗ hình tròn, dài 142cm, đường kính 2 cm; 01 cây cuốc hình lưỡi chim cán bằng gỗ, dài 102cm, đường kính 3cm; 01 cái áo lao động dài tay có đặc điểm màu xanh, trên mặt sau lưng áo có chữ Komix; 01 đôi dép bằng nhựa màu đen. Xét thấy, đây là những công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn A, phạm tội: “Hiếp dâm”.
2. Căn cứ: khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A 03( ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây cuốc có đặc điểm cán bằng gỗ hình tròn, dài 142cm, đường kính 2 cm; 01 cây cuốc hình lưỡi chim cán bằng gỗ, dài 102cm, đường kính 3cm; 01 cái áo lao động dài tay có đặc điểm màu xanh, trên mặt sau lưng áo có chữ Komix; 01 đôi dép bằng nhựa màu đen.
(Hiện trạng vật chứng nêu trên theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/01/2022 tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam).
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 01 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận sự thỏa thuận:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn A bồi thường cho bị hại bà Đặng Thị I số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn A đã nộp đủ số tiền 30.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003686 ngày 08/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/01/2022 tại Kho bạc nhà nước huyện Hàm Thuận Nam
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003686 ngày 08/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam và số tiền 20.000.000 đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/01/2022 tại kho bạc huyện Hàm Thuận Nam để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nhưng người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền ghi trên thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; bị hại báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/4/2022).
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hàm Thuận Nam; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Nam; - Công an huyện Hàm Thuận Nam; - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nàng Hương |