vanban.org

Bản án 33/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An Tuyên án 23/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 05 năm (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2022). Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn M "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HS-ST
Ngày: 23 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lữ Minh Luân.

Bà Nguyễn Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Đinh Văn M, sinh ngày 15 tháng 3 năm 2004, tại B; Nơi cư trú: Thôn 6, xã A, huyện A, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: H’rê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn S và bà Đinh Thị X; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2022 đến nay. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn M là ông Nguyễn Phát Thành - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Long An. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Minh T - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh D. (Vắng mặt)

2. Ông Phạm Văn S1 - Sinh năm 1986 - Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh D. (Vắng mặt) 3. Bà Lê Thị Kim C - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: 29/8/22 B, phường 15, quận 8, Thành phố H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thông qua người bạn tên H (không xác định được nhân thân lai lịch, khoảng 35 tuổi, quê Phú Yên) hứa sẽ giới thiệu việc làm cho Đinh Văn M. Ngày 28/3/2022, M được người phụ nữ gọi là bà S2 (không xác định được nhân thân lai lịch) gọi vào số điện thoại 0946041350 của M để thuê M vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực Tho Mo thuộc ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh L đến quận 8, Thành phố H với tiền công là 1.500.000 đồng/chuyến và khi nào cần đi vận chuyển thì bà S2 sẽ điện cho M, vì cần tiền tiêu xài nên M đồng ý. Khoảng 05 giờ, ngày 29/3/2022, bà S2 điện thoại và kêu M đi ra bãi xe bà T thuộc ấp 4, xã M gần chỗ trọ của M để nhận xe ô tô vận chuyển thuốc lá điếu đến quận 8, Thành phố H. Thực hiện theo sự chỉ dẫn của bà S2, M đi bộ từ phòng trọ đến bãi xe T thì thấy có một xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ELANTRA, màu trắng, gắn biển số 61A-605.29 đậu sẵn, trên xe đã được cất giấu sẵn thuốc lá điếu nhập lậu, M không biết số lượng bao nhiêu. Lúc này, có 02 người đàn ông bịt khẩu trang kín mặt đứng cạnh xe ô tô, khi thấy M thì hai người này nói thuốc lá đã được chất lên xe và kêu M điều khiển xe đi. Sau đó, hai người đàn ông bỏ đi, M đến vị trí xe ô tô biển số 61A-605.29 điều khiển vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu về hướng Thành phố H theo thỏa thuận với bà S2. Nhưng đến khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 29/3/2022, khi M đang điều khiển xe ô tô biển số 61A-605.29 đến khu vực cầu Bà Vòm thuộc ấp 2, xã M, huyện Đ thì bị lực lượng Công an chốt chặn kiểm tra bắt quả tang Đinh Văn M cùng tang vật. Tại thời điểm bắt quả tang đối với Đinh Văn M, dưới sự kiểm đếm trực tiếp của M, lực lượng công an phát hiện bên trong xe ô tô 61A-605.29 do M điều khiển có chứa 7.800 bao thuốc lá nhập lậu gồm: 6.600 bao nhãn hiệu Jet và 1.200 bao nhãn hiệu Hero. Tang vật tạm giữ quả tang gồm:

- 7.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 6.600 bao nhãn hiệu Jet và 1.200 bao nhãn hiệu Hero.

- 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ELANTRA, màu trắng, gắn biển số 61A-605.29

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đỏ, số sim 0945041350. Qua quá trình điều tra, bị cáo Đinh Văn M khai nhận: Ngoài lần bị bắt quả tang, vào trưa ngày 28/3/2022, với phương thức và địa điểm giao nhận như trên, M đã vận chuyển trót lọt 01 chuyến thuốc lá điếu nhập lậu cho bà S2 nhưng M không xác định được số lượng, chủng loại thuốc lá đã vận chuyển. Khi M vận chuyển thuốc lá lậu đến địa điểm giao tại một bãi đất trống thuộc quận 8, Thành phố H thì có nhiều người nhanh chóng chuyển thuốc lá xuống xe ô tô 61A-605.29, không xác định những người này là ai. Vận chuyển thuốc lá ngoại xong khi trở về bãi xe T thì có một người đàn ông lạ mặt đến trả cho M số tiền 500.000 đồng nói là trả tiền công vận chuyển, bà S2 còn thiếu lại 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị can M không có tài liệu nào khác để chứng minh.

Qua quá trình điều tra xác định: Xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại ELANTRA, màu trắng, biển số 61A - 605.29 do ông Phạm Minh T1 sinh năm 1989, nơi cư trú tại ấp T, xã A, huyện P, tỉnh D là chủ sở hữu. Tháng 11/2021, do công việc ít sử dụng đến xe ô tô 61A-605.29 ông T1 có nhờ anh ruột là Phạm Văn S1 sinh năm 1986, nơi cư trú tại ấp T, xã An T, huyện Po, tỉnh D cho thuê xe ô tô trên. Ngày 27/11/2021, ông S1 có làm hợp đồng cho công ty TNHH TM DV VT Phượng Hoàng Car, địa chỉ 1107/60 P, phường 5, quận 8, Thành phố H do bà Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh S làm giám đốc thuê lại xe ô tô 61A - 605.29, thời gian thuê xe đến ngày 26/5/2022, giá thuê xe mỗi tháng là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng), mục đích thuê để làm phương tiện kinh doanh. Ngày 25/3/2022, công ty Phượng Hoàng Car có làm hợp đồng cho ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991, hộ khẩu thường trú: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh L thuê lại xe ô tô 61A-605.29, thời gian thuê xe đến ngày 10/4/2022, giá thuê xe là 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng), mục đích thuê để làm phương tiện kinh doanh. Từ ngày 30/3/2022, quá trình giám sát định vị của xe ô tô 61A - 605.29, công ty Phượng Hoàng Car phát hiện xe chỉ đậu tại Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An mà không di chuyển, công ty liên hệ với ông Nguyễn Văn T2 nhưng không liên lạc được nên đến Công an huyện Đức Huệ liên hệ đối với xe ô tô trên. Qua làm việc ông Phạm Minh T1, ông Phạm Văn S1 và đại diện công ty Phượng Hoàng Car xác định không quen biết, không có mối quan hệ và không liên quan gì đến việc Đinh Văn M dùng xe ô tô biển số 61A-605.29 để vận chuyển hàng cấm, yêu cầu được nhận lại xe ô tô 61A - 605.29 và không có yêu cầu gì khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ tiến hành xác minh tại Công an xã M, huyện Đ, tỉnh L kết quả không có người tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991 tạm trú và thường trú trên địa bàn xã M, huyện Đ, tỉnh L. Mặc khác, Đinh Văn M khai nhận không xác định nguồn gốc xe ô tô 61A - 605.29, xe ô tô trên là do người tên Bà S2 hướng dẫn đến bãi xe bà T để nhận làm phương tiện vận chuyển hàng cấm.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Minh T1: Xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại ELANTRA, màu trắng, biển số 61A-605.29 theo Quyết định xử lý vật chứng số 17 ngày 10/6/2022 và biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 13/6/2022.

Cáo trạng số: 31/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Đinh Văn M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ: điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn M từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu câu xem xét lại nên không xem xét.

- Số lượng 7.800 bao thuốc lá gồm: 6.600 bao nhãn hiệu Jet và 1.200 bao nhãn hiệu Hero, là thuốc lá điếu nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển. Đề nghị tich thu tiêu hủy. Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đỏ, số sim 0945041350, đã qua sử dụng, xác định điện thoại của bị cáo sử dụng liên lạc thực hiện tội phạm. Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý. Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Minh T1 sau khi nhận lại xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại ELANTRA, màu trắng, biển số 61A-605.29 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, ông Phạm Văn S1 và bà Lê Thị Kim C, đại diện cho công ty TNHH MTV DV DL VT Phượng Hoàng Car không yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Đối với người phụ nữ mà Đinh Văn M gọi là bà S2 có hành vi thuê M vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, người đàn ông tên H là người giới thiệu M vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, những người giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu cho M vận chuyển, người đàn ông trả cho M số tiền 500.000 đồng vào ngày 28/3/2022 do không xác định được nhân thân lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Tại phiên tòa: 1. Ông Phạm Minh T1 vắng mặt tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Ông đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo. 2. Ông Phạm Văn S1 vắng mặt tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Ông đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo. 3. Bà Lê Thị Kim C vắng mặt tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Bà đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo.

- Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Phát Thành - Trợ giúp viên pháp lý trình bày: Thống nhất về tội danh cũng như hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhân thân bị cáo như: Bị cáo có trình độ văn hóa thấp, gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo. Địa phương của bị cáo (xã An Trung) là xã nghèo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ít hiểu biết về pháp luật. Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, cha bị cáo bị bệnh nặng, có bà ngoại là bà Lài là Thương binh 21%. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tài phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên, Trợ giúp viên pháp lý đều thực hiện đúng và hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.

Vào ngày 29/3/2022 (khoảng 06 giờ 00 phút), Đinh Văn M nhận lời vận chuyển thuê thuốc lá cho người khác (một người đàn bà không rõ nhân thân lai lịch chỉ biết là bà S2) nên dùng xe một xe ô tô con nhãn hiệu: HYUNDAI, số loại ELANTRA, màu trắng, biển số 61A-605.29 vận chuyển 7.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.600 bao nhãn hiệu Jet và 1.200 bao nhãn hiệu Hero), từ khu vực ấp 4, xã M, huyện Đ về quận 8, Thành phố H không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 7.800 bao. Mục đích bị cáo M vận chuyển thuê nhận tiền công mỗi chuyến 1.500.000 đồng. Khi bị cáo M đang vận chuyển đến khu vực cấu Bà Vòm ấp 2, xã M thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.

Tại phiên toà, bị cáo Đinh Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Huệ tỉnh Long An lập lúc 06 giờ 10 phút, ngày 29/03/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Đinh Văn M phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 31/CT-VKS-ĐH ngày 20 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Đinh Văn M với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật. [4] Hành vi của bị cáo Đinh Văn M là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa là thuốc lá ngoại, không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa, từ khu vực biên giới ấp 4, xã M, huyện Đ về quận 8, Thành phố H với số lượng 7.800 bao. Số lượng thuốc bị cáo vận chuyến gấp 1,7 lần định lượng khởi điểm (4.500 bao). Hành vi này của bị cáo M phải được xử lý nghiêm. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa. [4.1] Ngoài hình phạt chính, không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự vì hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định. [4.2] Ngoài ta, bị cáo còn khai nhận đã thực hiện thành công một lần vận chuyển thuốc lá vào ngày 28/3/2022. Ngoài lời khai của bị cáo ra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không có tài liệu, chúng cứ để chứng minh nên không tính bị cáo phạm tội nhiều lần và buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính. [5] Xét thấy bị cáo Đinh Văn M trong quá trình truy tố và xét xử thật thà khai báo, bị cáo chưa tiền sự, không có việc làm ổn định có bà ngoại (Đinh Thị Lãi) là người có công cách mạng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn M là có cơ sở theo quy định pháp luật. [7] Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý về các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Đinh Văn M là có cơ sở theo quy định pháp luật. [8] Về trách nhiệm dân sư: Ông Phạm Minh T1, ông Phạm Văn S1 và bà Lê Thị Kim C vắng mặt tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Ông bà đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo. Do không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này phát sinh yêu cầu thì tách ra giải quyết bằng một vụ án khác. [9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Phần cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.

- Đối với số lượng 7.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.600 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet và 1.200 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero), là thuốc lá điếu nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đỏ, số sim 0945041350, đã qua sử dụng, xác định điện thoại của bị cáo sử dụng liên lạc thực hiện tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách.

- Bị cáo chưa nhận tiền công nên không đề cập thu hồi lại.

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm không bỏ lọt tội phạm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đinh Văn M phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326, 327 và 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự ;

- Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 05 năm (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2022).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 7.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.600 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet và 1.200 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero) theo quy định hiện hành.

- Tich thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đỏ, số sim 0945041350.

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đinh Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 23/7/2022). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ