vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu K kiện của nguyên đơn; cụ thể: xử ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Đỗ Văn K.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh Châu, sinh ngày 01/6/2017. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Về án phí: Chị Phạm Diệu L phải nộp 300.000 đồng án phí dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Linh-Khởi"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu K kiện của nguyên đơn; cụ thể: xử ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Đỗ Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22- 03 - 2022
V/v ly hôn giữa chị L và anh K

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui

2. Ông Vũ Đức Khang

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/02/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Diệu L, sinh năm 1995; địa chỉ: Đội 7, Đông Lĩnh, xã Nghĩa Đồng, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1990; địa chỉ: Đội 7, Đông Lĩnh, xã Nghĩa Đồng, huyện N, tỉnh Nam Định. Là bị đơn. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam công an tỉnh Nam Định. Địa chỉ: xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn K kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn nguyên đơn chị Phạm Diệu L trình bày: Chị và anh Đỗ Văn K kết hôn ngày 19/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Đồng, huyện N trên co sở kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại Đội 7, Đông Lĩnh, xã Nghĩa Đồng. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh K thường xuyên đánh đập chị L và sa vào tệ nạn cờ bạc buộc chị L phải sống ly thân với anh K. Đầu năm 2020 anh K đã dùng axit tạt vào vùng cổ gây thương tích cho chị L dẫn tới việc bị xử phạt tù và đang chấp hành án tại Trại tạm giam công an tỉnh Nam Định. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh K được ly hôn. Về con chung: Chị L xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Minh Châu, sinh ngày 01/6/2017. Sau khi ly hôn, chị L đề nghị được nuôi dưỡng cháu Châu và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh K hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam công an tỉnh Nam Định. Địa chỉ: xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định do vậy Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định đã quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định làm việc với bị đơn, anh K có bản tự khai gửi cho tòa án. Nội dung bản tự khai của anh K khai về thời gian và điều kiện kết hôn phù hợp với những điều chị L trình bày tại đơn K kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay. Đối với việc chị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, anh K không đồng ý ly hôn với chị L và đề nghị Tòa án tạo điều kiện chấp hành án xong thì anh sẽ về giải quyết ly hôn với chị L sau. Về con chung, anh K xác định anh chị có một con chung là cháu Đỗ Minh Châu, sinh ngày 01/6/2017, do anh K đang phải chấp hành án nên không thể trực tiếp nuôi cháu Châu đề nghị Tòa án tạo điều kiện cho anh chấp hành án xong trở về sẽ giải quyết việc nuôi con. Về tài sản chung anh K không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập chứng cứ, tài liệu xây dựng hồ sơ cũng như diễn biến phiên tòa Tòa án nhân dân huyện N đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát có quan điểm như sau: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Đỗ Văn K. Giao con chung là Đỗ Minh Châu, sinh ngày 01/6/2017 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị tuyên án phí với chị L theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Đỗ Văn K đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Nghĩa Đồng, huyện N, tỉnh Nam Định. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định. Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn nhưng do anh K đang chấp hành án tại Trại tạm giam công an tỉnh Nam Định và đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Diệu L và anh Đỗ Văn K kết hôn vào ngày 19/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Đồng. Việc kết hôn là tự nguyện, không bị lừa dối ép buộc. Như vậy hôn nhân giữa chị Phạm Diệu L và anh Đỗ Văn K là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, anh K có hành vi cố ý gây thương tích cho chị L dẫn tới việc phải chấp hành án phạt tù dẫn tới đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh K không nhất trí ly hôn với chị L nhưng anh K đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Xét thấy cần chấp nhận đơn K kiện của chị L là phù hợp.

Về con chung: Chị L và anh K thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Minh Châu, sinh ngày 01/6/2017. Xét thấy hiện nay K đang chấp hành án phạt tù, cháu Châu được mẹ chăm sóc nuôi dưỡng cho đến nay vẫn đảm bảo tốt sự phát triển cho cháu do vậy cần tiếp tục giao chị L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho cháu Châu là phù hợp với sự phát triển về thể chất và tâm lý cho cháu nên được chấp nhận. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Diệu L phải nộp án phí dân dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử chấp nhận yêu cầu K kiện của nguyên đơn; cụ thể: xử ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Đỗ Văn K.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh Châu, sinh ngày 01/6/2017. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3. Về án phí: Chị Phạm Diệu L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai số AA/2019/0004249 ngày 12/07/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị L đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị L, vắng mặt anh K. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ