vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của anh Phạm Văn Thông và chị Nguyễn Thị Hoa là vợ chồng.

Về tài sản: Dành quyền khởi kiện cho anh Thông, chị Hoa khởi kiện bằng vụ kiện khác về chia tài sản sau ly hôn (nếu có yêu cầu). Về án phí: Anh Phạm Văn Thông phải chịu án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn T-Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của anh Phạm Văn Thông và chị Nguyễn Thị Hoa là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-8- 2022
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trịnh Thị Yến

2. Ông Phạm Bá Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa: không.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2022/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 tranh chấp về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022 /QĐXX-ST, ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Thông - Sinh năm: 1971

Địa chỉ: Thôn 2, xã Nga Thanh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hoa - Sinh năm: 1972

Địa chỉ: Thôn 2, xã Nga Thanh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 28/6/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Phạm Văn Thông trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Hoa có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống vào năm 1990 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Nga Thanh. Vợ chồng chung sống được 25 năm đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên lục đục, xích mích, suy nghĩ luôn bất đồng. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 đến nay, hai bên không còn tình cảm, sự quan tâm đến nhau không còn. Anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị Hoa theo quy định; về con: vợ chồng có 03 con chung, cháu Phạm Thị Hồng, sinh năm 1991, Phạm Thị Hương, sinh năm 1995 và Phạm Thị Huyền, sinh năm 1999. Hiện tại các cháu đã trưởng thành nên anh không yêu cầu giải quyết; về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án xem xét.

* Tại bản tự khai chị Hoa trình bày: Về năm kết hôn chị không có ý kiến gì. Về nguyên nhân mâu thuẫn: do anh Thông có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Từ cuối năm 2014, chị thường xuyên bị anh Thông đánh đập, đe dọa, chửi bới. Năm 2015, chị bỏ trốn đi Miền Nam và sống ly thân anh Thông từ đó đến nay. Anh Thông đề nghị ly hôn, chị cũng nhất trí; về con chị thống nhất như ý kiến anh Thông đã trình bày; về tài sản: vợ chồng có tài sản chung gồm: 01 thửa đất số 285, tờ bản đồ số 1; địa chỉ: Nga Thanh, Nga Sơn, Thanh Hóa; diện tích 75m2; 01 nhà cấp 4, chị và anh Thông tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án xem xét trong cùng vụ án này.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Thông và chị Hoa đều thống nhất vợ chồng không có đăng ký kết hôn và đề nghị giải quyết theo quy định; Về con và tài sản chung: Hai bên thống nhất không yêu cầu giải quyết;

Tại phiên tòa hôm nay, anh Thông có ý kiến về giấy chứng nhận kết hôn anh nhớ lại là không đăng ký tại UBND xã nên không có để xuất trình, nhưng anh vẫn đề nghị được ly hôn chị Hoa. Đối với bị đơn chị Hoa có đơn xin xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Hoa theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

* Về tố tụng: Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Về hôn: Theo các đương sự trình bày: Năm 1990, anh Thông và chị Hoa về chung sống cùng nhau, có tổ chức cưới theo phong tục truyền thống nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hai bên thường phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình cảm không thể duy trì. Anh Thông và chị Hoa thống nhất ly hôn. Xét thấy, anh Thông và chị Hoa khi xây dựng cuộc sống chung đảm bảo điều kiện kết hôn nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền mà lại chung sống như vợ chồng và không đăng ký kết hôn. Do đó, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, qúa trình chung sống như vợ chồng của anh Thông và chị Hoa đã tồn tại trong thời gian dài. Đồng thời các đương sự đều đề nghị giải quyết ly hôn. Xét việc đề nghị của các đương sự là hoàn toàn chính đáng, nhưng không có cơ sở để giải quyết ly hôn. Căn cứ vào Điều 9; Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình “Không công nhận quan hệ của anh Phạm Văn Thông và chị Nguyễn Thị Hoa là vợ chồng” là phù hợp quy định của pháp luật.

Về con: Quá trình chung sống, anh Thông và chị Hoa có 03 con chung là cháu Phạm Thị Hồng, sinh năm 1991, Phạm Thị Hương, sinh năm 1995 và Phạm Thị Huyền, sinh năm 1999. Hiện tại các cháu đã trưởng thành, anh Thông và chị Hoa không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về tài sản: Các đương sự thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Anh Phạm Văn Thông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của anh Phạm Văn Thông và chị Nguyễn Thị Hoa là vợ chồng.

2. Về tài sản: Dành quyền khởi kiện cho anh Thông, chị Hoa khởi kiện bằng vụ kiện khác về chia tài sản sau ly hôn (nếu có yêu cầu).

3. Về án phí: Anh Phạm Văn Thông phải chịu án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0014985 ngày 04/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn; anh Thông đã nộp đủ án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Anh Thông có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Chị Hoa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Yến

Phạm Bá Luyến

Lê Thị Huệ

Cỡ chữ