vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Đặng Văn Th.

Về con chung: Giao cháu Đặng Văn Vinh; sinh ngày 14/9/2009 cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi cháu Đặng Văn Vinh đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Th không phải đóng góp phí tổn nuôi con. Anh Đặng Văn Th có quyền đi lại thăm nom,chăm sóc con chung không ai có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Văn Thuận"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Đặng Văn Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST
Ngày 29/8/2022
V/v: “Kiện ly hôn, tranh
chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Xuân Hưởng;

2. Bà Vũ Thị Hoà

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Anh- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Ngày 29/8/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai,tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 119/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/6/2022về việc: “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:27/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 28/7/2022; Quyết định hoãn phiên toà số 26/2022/QĐHPT ngày 17/8/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H; sinh năm: 1981;dân tộc: Kinh;

nghề nghiệp: Tự do.Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Đặng Văn Th; sinh năm: 1972; dân tộc: Kinh; nghề

nghiệp: Công nhân.

Cùng hộ khẩu thường trú: Thôn Tòng Chú 3, xã C, thành phố L, tỉnh L . Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện;bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thu H trình bày: Chị và anh Đặng Văn Th kết hôn ngày 18/12/2009, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tự nguyện không do bên nào ép buộc. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không thông cảm cho nhau,thường hay cãi,chửi nhau. Mâu thuẫn xảy ra được chính quyền địa phương, bạn bè khuyên giải nhưng không được. Hiện anh chị đã sống ly thân mỗi người một nhà được gần một năm, không ai quan tâm đến ai. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết để chị được ly hôn với anh Đặng Văn Th nhằm ổn định cuộc sống sau này của mỗi người.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung là cháu Đặng Văn Vinh; sinh ngày 14/9/2009. Khi ly hôn chị Nguyễn Thu H xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Văn Vinh, không yêu cầu anh Đặng Văn Th phải đóng góp phí tổn nuôi con.

Nghề nghiệp hiện nay của chị là làm tự do, thu nhập trung bình là 10.000.000 triệu đồng/ tháng.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và phiên hòa giải, cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng bị đơn đã không đến tham tố tụng để giải quyết vụ án. Nên Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý giải quyết vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng bị đơn không đến tham gia tố tụng, cần áp dụng khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H và anh Đặng Văn Th kết hôn ngày 18/12/2009,có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tự nguyện không do bên nào ép buộc. Do vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.Nhưng trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không thông cảm cho nhau, thường hay cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn xảy ra được chính quyền địa phương, bạn bè khuyên giải nhưng không được. Hiện anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai.Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thu H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn Th. Xét thấy mâu thuẫn gia đình chị Nguyễn Thu H và anh Đặng Văn Th đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng đã sống ly thân nên cuộc sống chung không thể kéo dài. Vậy cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thu H, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn Th theo quy định khoản 1 điều 51; Khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình là có căn cứ.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung là cháu Đặng Văn Vinh; sinh ngày 14/9/2009 hiện đang ở với chị Nguyễn Thu H, chị Nguyễn Thu H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cháu Đặng Văn Vinh. Không yêu cầu anh Đặng Văn Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét về vấn đề nuôi con thấy rằng: Việc giao con chung cho chị Nguyễn Thu H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Vì cháu Đặng Văn Vinh có nguyện vọng xin được ở cùng mẹ. Chị Nguyễn Thu H có nghề nghiệp ổn định,có thu nhập khoảng 10 triệu đồng/ tháng.

Căn cứ điều 81 ; điều 82; điều 83 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết vấn đề nuôi con của chị Nguyễn Thu H là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thu H không yêu cầu Toà án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng , án phí, lệ phí Tòa án để tính án phí cho các đương sự

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 ; 81 ;82 ;83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng , án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Đặng Văn Th. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thu H và anh Đặng Văn Th chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Văn Vinh; sinh ngày 14/9/2009 cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi cháu Đặng Văn Vinh đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Th không phải đóng góp phí tổn nuôi con. Anh Đặng Văn Th có quyền đi lại thăm nom,chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở anh Đặng Văn Th thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001588 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ