vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 27/05/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn T được ly hôn với anh Kim G. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008812 ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYÊN ĐƠN CHỊ NGUYỄN T KHỞI KIỆN BỊ ĐƠN ANH KIM G"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 27 - 5 - 2022.
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đình Nghệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lư Văn Sĩ.

2. Ông Nguyễn Hoa Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXX-ST ngày 06 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, thành phố C, tỉnh Hậu Giang (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Kim G, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Số E, K, J D, O, Korea (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn T trình bày: Chị và anh Kim G kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc, đã thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang vào ngày 06 tháng 09 năm 2010. Sau khi kết hôn anh Kim G trở về Hàn Quốc sinh sống, chị vẫn ở Việt Nam và hai người ly thân đến nay, không còn liên lạc với nhau. Nay chị Nguyễn T yêu cầu được ly hôn với anh Kim G.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn T khai không có.

Đối với bị đơn là anh Kim G, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Tòa án Tối cao Hàn Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự cho anh Kim G nhưng kết quả ủy thác tư pháp không được do địa chỉ không đúng. Chị Nguyễn T không thể cung cấp đúng địa chỉ anh Kim G cho Tòa án và có yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết thông báo nội dung khởi kiện tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc và đăng tin trên kênh VOV5 Ban đối ngoại của Đài tiếng nói Việt Nam nhưng anh Kim G vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn T đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu, trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn T được ly hôn với anh Kim G. Riêng về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn T, địa chỉ thường trú tại Khu vực A, phường B, thành phố C, tỉnh Hậu Giang có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Kim G là người có quốc tịch Hàn Quốc và cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn anh Kim G đã được Tòa án tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp cho Tòa án Tối cao Hàn Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng kết quả ủy thác tư pháp không được do địa chỉ không đúng. Chị Nguyễn T không thể cung cấp đúng địa chỉ anh Kim G cho Tòa án và có yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết thông báo nội dung khởi kiện tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc và đăng tin trên kênh VOV5 Ban đối ngoại của Đài tiếng nói Việt Nam nhưng anh Kim G vắng mặt và không gửi văn bản nêu ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn T đến Tòa án. Do đó, căn cứ vào điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử vắng mặt anh Kim G. Đối với chị Nguyễn T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn T và anh Kim G kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc, đã thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang vào ngày 06 tháng 09 năm 2010 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật Việt Nam thừa nhận.

Xét thấy, sau khi kết hôn anh Kim G trở về Hàn Quốc và hai người ly thân đến nay, không còn liên lạc với nhau. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn T và anh Kim G không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị Nguyễn T được ly hôn với anh Kim G là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn T khai không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; lệ phí ủy thác tư pháp; chi phí dịch thuật văn bản tố tụng, niêm yết và đăng tin: Chị Nguyễn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 470, Điều 474, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Thông tư số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn T được ly hôn với anh Kim G.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008812 ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.

3. Lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp chị Nguyễn T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009801 ngày 04 tháng 5 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.

4. Chi phí tố tụng (dịch thuật văn bản tố tụng, niêm yết và đăng tin ngày mở phiên tòa): Chị Nguyễn T phải chịu là 4.245.000 đồng (Bốn triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Chuyển 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) chị Nguyễn T đã nộp theo Phiếu thu tạm ứng ngày 04 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang thành chi phí tố tụng. Chị Nguyễn T còn phải nộp thêm 245.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tại Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày và bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ