vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị BD ly hôn với anh Trần Vũ HL.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị BD là người trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn cháu Trần Hoàng Linh Đan, sinh năm 2019 cho đến khi trưởng thành. Anh Trần Vũ HL không có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung sau khi ly hôn. Khi ly hôn cha, mẹ bên không trự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị BD ly hôn với anh Trần Vũ HL.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình HĐXX
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 8 năm 2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Nam

Ông Trịnh Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 413/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 về việc "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 413/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị BD, sinh năm: 1998; Địa chỉ: K45/7 đường Đống Đa, phường T, quận H, thành phố Đà nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Vũ HL, sinh năm: 1996; Địa chỉ:155 đường Trần Cao Vân, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/12/2021, bản tự khai ngày 30/6/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị BD trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị BD và anh Trần Vũ HL kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (theo giấy chứng nhận kết hôn số 76/2018, ngày 10 tháng 7 năm 2018), hôn nhân trên sự tự nguyện. Đầu năm 2020 đến nay giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Long không tu chí làm ăn, bỏ bê gia đình, đi làm về không đưa tiền cho vợ để lo gia đình và thường xuyên đánh đập vợ con dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hòa giải được, gần 01 năm nay vợ chồng đã sống ly thân, phần ai đấy sống không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị Diễm xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Long.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị BD và anh Trần Vũ HL có 01 con chung là Trần Hoàng Linh Đan, sinh ngày 13/02/2019. Do cháu mới 02 tuổi nên sau khi ly hôn chị Diễm xin được nuôi con chung Trần Hoàng Linh Đan, không yêu cầu ông Long cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng của chị Nguyễn Thị BD và anh Trần Vũ HL đã trầm trọng, xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Nguyễn Thị BD đối với anh Trần Vũ HL là có căn cứ, phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị BD và anh Trần Vũ HL. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Nguyễn Thị BD.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị BD khởi kiện vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc "Ly hôn" đối với Trần Vũ HL có nơi cư trú: phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 22/12/2021 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Xét về nội dung: Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị BD cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã đã kéo dài hơn 02 năm nay, nguyên nhân do anh Long không tu chí làm ăn, bỏ bê gia đình, đi làm về không đưa tiền cho vợ để lo gia đình và thường xuyên đánh đập vợ con dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Vũ HL. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa thể hiện: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị BD và anh Trần Vũ HL là hợp pháp. Theo chị Diễm trình bày trong quá trình chung sống gần 02 năm nay vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Long không tu chí làm ăn, đi làm về không đưa tiền cho vợ, bỏ bê gia đình và thường xuyên đánh đập vợ con dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hòa giải được, gần 01 năm nay vợ chồng đã sống ly thân, phần ai đấy sống không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh Long vẫn không đến và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Diễm điều đó căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng như chị Diễm trình bày là có thực. Trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử hòa giải động viên chị Diễm rút đơn về đoàn tụ gia đình lo cho con cái nhưng chị cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng kéo dài và thực tế vợ chồng đã sống ly thân với nhau gần 01 năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy, trong cuộc sống chung vợ chồng anh Long đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích nhân nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị BD đối với anh Trần Vũ HL . [3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị BD xác định chị và anh Trần Vũ HL có 01 con chung là Trần Hoàng Linh Đan, sinh năm 2019. Hiện nay cháu chưa được 02 tuổi, cần có sự chăm sóc của người mẹ. Ly hôn, chị Diễm có nguyện vọng được nuôi con chung Trần Hoàng Linh Đan, không yêu cầu ông Long cấp dưỡng. Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị Diễm phù hợp với quy định của pháp luật ( Điều 58 và khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình) nên HĐXX chấp nhận. Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con, chị Diễm không yêu cầu anh Long cấp dưỡng phí tổn nuôi con sau khi ly hôn. Xét yêu cầu trên là tự nguyện, tại phiên tòa chị Diễm cho rằng chị đủ khả năng để lo tốt cho con nên HĐXX chấp nhận không buộc anh Long phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết. [4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyễn Thị BD phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 56 và 58 của Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị BD ly hôn với anh Trần Vũ HL.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị BD là người trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn cháu Trần Hoàng Linh Đan, sinh năm 2019 cho đến khi trưởng thành. Anh Trần Vũ HL không có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung sau khi ly hôn.

Khi ly hôn cha, mẹ bên không trực tiếp nuôi con và bên trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: chị Nguyễn Thị BD phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số: 0002454 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ